PHÁT HIỆN NƠI ĐẢN SINH CỦA ĐỨC PHẬT SỚM HƠN CHÚNG TA TƯỞNG

Discovery: Buddha’s Birth Earlier Than Thought by National Geographic
Các nhà khảo cổ đã phát hiện ra bằng chứng về một ngôi chùa Phật giáo cổ nhất chưa từng được khám phá, có niên đại khoảng năm 550 trước Công nguyên.Tọa lạc tại trung tâm hành hương Lâm Tì Ni của Nepal, địa điểm huyền thoại nơi Đức Phật đản sinh, phát hiện chỉ ra rằng Ngài đã từng sống hơn một thế kỷ trước đó so với thời gian được chấp nhận bởi nhiều học giả trước đây.
“Điều mà chúng tôi có được là một ngôi chùa Phật giáo đầu tiên trên thế giới” nhà khảo cổ học Robin Coningham của trường Đại học Durham Vương quốc Anh, tác giả chính của nghiên cứu phát hiện, tiết lộ trên tạp chí Antiquity cách nay vài ngày.
Trong nghiên cứu, nhóm khảo cổ quốc tế báo cáo đã đào cấu trúc bằng gạch dưới ngôi chùa hiện tại, được đến thăm hàng năm bởi hàng trăm ngàn người hành hương.
Các cuộc khai quật cho thấy những cấu trúc bằng gỗ cũ hơn nằm bên dưới các bức tường của ngôi chùa bằng gạch sau này. Cách bố trí của ngôi chùa này trùng lặp với cách bố trí của các cấu trúc bằng gỗ trước đó, cho thấy một sự thờ phượng liên tục tại địa điểm này, Coningham nói.
“Đã có các cuộc tranh luận lớn về thời gian tại thế của Đức Phật và bây giờ chúng tôi có một cấu trúc chùa từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên”, Coningham nói. Nhóm nghiên cứu sử dụng hai loại khoa học xác định niên đại để tìm ra tuổi của ngôi chùa ban đầu.
Các học giả bên ngoài hoan nghênh sự phát hiện nhưng cảnh báo sự quá vội vàng chấp nhận đây là ngôi chùa Phật giáo lâu đời nhất từng được phát hiện mà không cần phân tích thêm.
“Các nhà khảo cổ thường thích tuyên bố rằng họ đã tìm một cái gì đó thấy sớm nhất hoặc lâu đời nhất”, nhà khảo cổ học trẻ tuổi Ruth của Đại học Leicester Vương quốc Anh trong một email nói.
Hiệp hội Địa lý Quốc gia Mỹ National Geographic
Dưới đây là chùm ảnh của National Geographic
Bản đồ vị trí khai quật cổ sử – Lumbini (Vườn Lâm Tỳ Ni – lãnh thổ Nepal)
Đền thờ Hoàng hậu Maya (Mahadevi temple), nơi đang khai quật cổ sử bên trong

Một vị sư đang hướng về đền thờ Hoàng hậu Maya (Mahadevi temple) cầu nguyện


Các vị sư đang cầu nguyện khi đoàn khảo cổ Anh đang khai quật cổ sử phía bên dưới









PHÁT HIỆN DẤU TÍCH PHẬT TỔ 
SỐNG Ở THẾ KỶ THỨ 6 TRƯỚC CÔNG NGUYÊN


Ngày 25/11, các nhà khảo cổ học đã công bố việc phát hiện một cấu trúc bằng gỗ chưa từng được biết đến tại nơi sinh của Phật tổ, cho thấy ngài có thể đã sống ở thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên, sớm 2 thế kỷ so với những ghi nhận trước đây.
Khu đền thiêng Maya Devi tại Lumbini
Theo hãng tin AFP, những dấu vết về một cấu trúc dường như là một đền thờ bằng gỗ cổ đã được tìm thấy bên dưới một ngôi đền bằng gạch, nằm trong khu đền thiêng Maya Devi của đạo Phật tại Lumbini, phía Nam Nepal, gần biên giới với Ấn Độ.
Về thiết kế, cấu trúc gỗ này có sự tương đồng với ngôi đền Asokan được dựng phía trên nó. Nhưng đáng chú ý nhất đó là nó có một khu vực không gian mở, không được bảo vệ trước các tác động môi trường, và có vẻ như một cái cây từng mọc lên từ đây – có khả năng là cây nơi đức Phật tổ ra đời.
“Việc này giúp làm sáng tỏ rất nhiều tranh luận kéo dài” về thời điểm đức Phật ra đời, và thời điểm đức tin phát triển từ sự thuyết giảng của ngài bén rễ, nhà khảo cổ học Robin Coningham nhận định.
Cho đến nay, hầu hết mọi giả thuyết đều chấp nhận rằng đức Phật được sinh ra bên dưới một cây gỗ cứng tại Lumbini trong khi mẹ của ngài – công chúa Maya Devi – vợ của một tộc trưởng, đang trên đường tới vương quốc của cha mình để chuẩn bị sinh con.
Nhưng phần nhiều những gì được biết đến về cuộc đời của đức Phật đều có nguồn gốc từ những giai thoại truyền miệng, thiếu những bằng chứng khoa học để chứng minh.
Nhiều học giả đồng thuận rằng đức Phật – người đã từ bỏ sự giàu sang vật chất để đi tìm kiếm và thuyết giảng về sự khai sáng – đã sống và truyền đạo ở thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, và qua đời ở tuổi 80.
“Điều mà công trình của chúng tôi đã chỉ ra đó là chúng ta biết ngôi đền này (tại nơi đức Phật ra đời) được hình thành ở thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên”, ủng hộ cho giả thuyết rằng đức Phật có thể đã sống và truyền đạo từ thời gian đó, Coningham nói.
Các kỹ thuật cac-bon phóng xạ và phát quang kích thích đã được sử dụng để xác định niên đại của các mảnh than củi và các hạt cát được tìm thấy tại hiện trường.
Trong khi đó các nghiên cứu địa khảo cổ đã xác nhận sự tồn tại của các rễ cây trong khu vực không gian mở ở trung tâm của ngôi đền.
Coningham đã đồng chủ trì một nhóm các nhà khảo cổ học quốc tế nghiên cứu tại Lumbini và hoạt động này được tài trợ một phần bởi Hội địa lý quốc gia Mỹ, có trụ sở tại Washington.
Lumbini – khu vực vốn bị rừng che phủ trước khi được tái phát hiện năm 1896 – ngày nay là một di sản của UNESCO và đón hàng trăm triệu tín đồ mỗi năm. Trên toàn thế giới, đạo Phật có khoảng 500 triệu tín đồ.
Thanh Tùng  
Theo AFP

phatdansinh_2013


PHÁT HIỆN DẤU TÍCH NƠI ĐỨC PHẬT RA ĐỜI 

Cập nhật: 07:42 GMT – thứ ba, 26 tháng 11, 2013 
BBC NEWS

Các nhà khảo cổ đã khai quật ở trung tâm ngôi đền thờ Hoàng hậu Maya (ảnh BBC)
Các nhà khảo cổ đang khảo sát tại nơi Đức Phật đản sinh đã phát hiện những di vật cổ xưa nhất của Phật giáo từ trước đến nay.
Họ đã tìm thấy một công trình bằng gỗ có niên đại vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên nằm dưới nền ngôi đền thờ Hoàng hậu Maya Devi ở Lâm Tỳ Ni thuộc Nepal.
Công trinh gỗ này dường như để che cho một cái cây. Chi tiết này gợi nhớ đến câu chuyện đản sinh của Đức Phật – thân mẫu Ngài, Hoàng hậu Maya, đã hạ sinh Ngài khi với tay lên một nhánh cây Vô ưu.

‘Chấm dứt tranh cãi’

Phát hiện này có thể giúp chấm dứt các tranh cãi về nơi đản sinh của Đức Phật, các nhà khảo cổ cho biết trong tạp chí Antiquity.
Hàng năm hàng ngàn Phật tử hành hương về Lâm Tỳ Ni vốn lâu nay vẫn được xem là nơi Thái tử Siddhartha Gautama, người sau này trở thành Phật Thích Ca, chào đời.
Mặc dù có rất nhiều kinh văn để lại kể về cuộc đời cũng như ghi lại những bài thuyết pháp của Ngài, mọi người vẫn không biết chắc nơi Ngài đã từng sống.
“Câu chuyện rằng Lâm Tỳ Ni đã trở thành thánh tích dưới thời của Hoàng đế Ashoka cần được chỉnh lại bởi vì chúng ta đã biết rõ rằng trước đó nơi này đã được trùng tu trong suốt hàng trăm năm.”
Nhà khảo cổ Robin Coningham ở Đại học Durham
Năm sinh của Ngài được cho là đến tận năm 623 trước Công nguyên, nhưng nhiều học giả tin rằng năm chào đời của Ngài hợp lý nhất là trong khoảng 390 cho đến 340 trước Công nguyên.
Cho đến nay, bằng chứng sớm nhất về các công trình Phật giáo ở Lâm Tỳ Ni có niên đại không sớm hơn thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, tức thời kỳ trị vì của Hoàng đế Ashoka mà các Phật tử Việt Nam gọi là Vua A Dục.
Để tìm hiểu về điều này, các nhà khảo cổ đã bắt đầu khai quật ở trung tâm Đền Maya Devi trong khi chư tăng ni và các Phật tử đang hành thiền xung quanh.
Họ tìm thấy một công trình bằng gỗ rỗng ở chính giữa và không có mái. Các ngôi đền bằng gạch được xây dựng sau này cũng đều được xây bao quanh không gian trung tâm này.

Dấu vết rễ cây

“Giờ đây, lần đầu tiên chúng ta đã có được một chuỗi kiến trúc ở Lâm Tỳ Ni cho thấy có một công trình ở đây vào thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên,” nhà khảo cổ Robin Coningham ở Đại học Durham, người đồng chỉ đạo nhóm khảo cổ quốc tế do Hội Địa lý Quốc gia hỗ trợ, cho biết.
Lâm Tỳ Ni được xem là một trong những thánh tích thiêng liêng nhất của Phật giáo
“Đây là thánh tích Phật giáo cổ xưa nhất trên thế giới,” ông nói.
“Nó soi rọi cuộc tranh luận kéo dài rất lâu vốn đưa đến những khác biệt trong các pháp môn Phật giáo,” ông nói thêm.
“Câu chuyện rằng Lâm Tỳ Ni đã trở thành thánh tích dưới thời của Hoàng đế Ashoka cần được chỉnh lại bởi vì chúng ta đã biết rõ rằng trước đó nơi này đã được trùng tu trong suốt hàng trăm năm.”
Cuộc khảo cổ cũng phát hiện dấu vết của rễ cây từ xa xưa nằm ở vị trí khoảng trống trung tâm trong ngôi nhà gỗ – điều này cho thấy đây là công trình tôn thờ chiếc cây này.
Các điển tích Phật giáo ghi lại rằng Hoàng hậu Maya Devi đã hạ sinh Đức Phật khi với tay lên một nhánh cây Vô ưu trong Vườn Lâm Tỳ Ni.
Phát hiện này sẽ góp phần thúc đẩy công tác bảo tồn ở Lâm Tỳ Ni vốn lâu nay không được lưu tâm mặc dù đã được Unesco công nhận là Di sản Thế giới.
“Những phát hiện này rất quan trọng để giúp hiểu thêm về nơi đản sinh của Đức Phật,” Bộ trưởng Văn hóa, Du lịch và Hàng không dân dụng Nepal Ram Kumar Shrestha nói.
“Chính phủ Nepal sẽ tập trung mọi nỗ lực để bảo tồn thánh tích quan trọng này.”

(BBC News)

NGUYÊN VĂN BẢN TIN

Discovery suggests Buddha lived in 6th century BC
AFP
By Robert MacPherson


Washington (AFP) – The discovery of an previously unknown wooden structure at the Buddha’s birthplace suggests the sage might have lived in the 6th century BC, two centuries earlier than thought, archeologists said.
Traces of what appears to have been an ancient timber shrine was found under a brick temple that is itself within Buddhism’s sacred Maya Devi Temple at Lumbini, in southern Nepal near the Indian border.
In design it resembles the Asokan temple erected on top of it. Significantly, however, it features an open area, unprotected from the elements, from which it seems a tree once grew — possibly the tree where the Buddha was born.
“This sheds light on a very very long debate” over when the Buddha was born and, in turn, when the faith that grew out of his teachings took root, said archeologist Robin Coningham in a conference call.
It’s widely accepted that the Buddha was born beneath a hardwood sal tree at Lumbini as his mother Queen Maya Devi, the wife of a clan chief, was traveling to her father’s kingdom to give birth.
But much of what is known about his life and time has its origins in oral tradition — with little scientific evidence to sort out fact from myth.
Many scholars contend that the Buddha — who renounced material wealth to embrace and preach a life of enlightenment — lived and taught in the 4th century BC, dying at around the age of 80.
“What our work has demonstrated is that we have this shrine (at Buddha’s birthplace) established in the 6th century BC” that supports the hypothesis that the Buddha might have lived and taught in that earlier era, Coningham said.
Radiocarbon and optically stimulated luminescence techniques were used to date fragments of charcoal and grains of sand found at the site.
Geoarcheological research meanwhile confirmed the existence of tree roots within the temple’s central open area.
Coningham co-directed an international team of archeologists at Lumbini that was funded in part by the Washington-based National Geographic Society, which plans to telecast a documentary, “Buried Secrets of the Buddha,” worldwide in February.

A view of Maya Devi temple (Mayadevi giving birth to Lord Buddha) at Lumbin some 250kms (155 miles)  …
The team’s peer-reviewed findings appear in the December issue of the journal Antiquity, ahead of the 17th congress of the International Association of Buddhist Studies in Vienna in August next year.
Lumbini — overgrown by jungle before its rediscovery in 1896 — is today a UNESCO world heritage site, visited by millions of pilgrims every year. Worldwide, Buddhism counts 500 million followers.
In a statement, UNESCO director general Irina Bokova called for “more archeological research, intensified conservation work and strengthened site management” at Lumbini as it attracts growing numbers of visitors.
UNESCO and the Nepalese government had invited Coningham, Britain’s leading South Asian archeologist, to join Nepal’s former director general Kosh Prasad Acharya to steer the Lumbini effort.
Since it’s a working temple, the archeologists found themselves digging in the midst of meditating monks, nuns and pilgrims.
It’s not unusual in history for adherents of one faith to have built a place of worship atop the ruins of a venue connected with another religion.
But what makes Lumbini special, Coningham said, is how the design of the wooden shrine resembles that of the multiple structures built over it over time.
Equally significant is what the archeologists did not find: signs of any dramatic change in which the site has been used over the ages.
“This is one of those rare occasions when belief, tradition, archeology and science actually come together,” he said.
(AFP Photo)

Hãy bay với hai cánh vào Hiện đại

Thưa Quý vị,

Thưa các bạn đồng nghiệp, trí thức, sinh viên thân mến,

Tây phương biết Phật giáo từ hồi đầu thế kỷ 19. Nhưng hồi đó chỉ mới một số ít học giả và triết gia khám phá ra sức thu hút của một tư tưởng đến từ phương Đông mà người ta không biết nên gọi là tôn giáo hay triết lý. Âm thầm, “ im lặng, Phật giáo lan ra xã hội, phát triển khắp nơi ở châu Âu ” (1) từ giữa thế kỷ 19 cùng với sự phát triển của trào lưu tiến hóa mà ngày nay ta gọi là hiện đại. Âm thầm, im lặng như thế cho đến đầu những năm 60 của thế kỳ 20 thì Phật giáo bỗng được tiếp nhận rộn ràng trong giới trẻ khi giới này phất lên một phong trào văn hóa phản kháng (contre-culture) chống lại văn hóa tôn sùng kỹ thuật, vật chất và tiền bạc. Giới trẻ khao khát một đời sống tâm linh mới giúp họ giải quyết những vấn đề tâm lý, hiện sinh, và họ nghĩ đã tìm được nơi Phật giáo. Đó là lúc mà nhiều trí thức trẻ tìm đến Tây Tạng như tìm đến miền đất hứa. Nhanh chóng, trong vòng hai mươi năm, tu viện và thiền viện mọc lên hàng trăm ngôi trên khắp Âu Mỹ. Giới trẻ – học thức và trung lưu – gặp một thứ hạnh phúc mới mà họ thực chứng được bằng kinh nghiệm tu học bản thân trong các thiền đường. Đến những năm 90 thì báo chí, truyền thông rộ lên cả một cao trào tin tức, bình luận, phóng sự, hình ảnh đầy cảm tình với Phật giáo. Cùng lúc, Hollywood nồng nhiệt đưa lên màn ảnh phim truyện về cuộc đời của đức Phật, về ngài Đạt Lai Lạt Ma, về Tây Tạng, nhiều ngôi sao màn bạc, nghệ sĩ, ca sĩ danh tiếng trở thành Phật tử, khiến dư luận, quần chúng, càng có cảm tình hơn. Bây giờ thì Phật giáo đã mọc rễ, đã phát triển trong xã hội, trong đời sống văn hóa ở Âu Mỹ. Phật giáo là môn học được ưa chuộng trong các trường đại học Mỹ danh tiếng, thu hút sinh viên ngày càng đông.

Thưa Quý Vị và các bạn thân mến, tôi rất vinh đự được nói chuyện với Quý Vị trong Tuần Lễ Văn Hóa này, và rất vui mừng được đặc biệt làm quen với các bậc trí thức và các bạn trẻ. Trong mấy câu nhập đề sơ lược ở trên, chắc quý vị và các bạn đã để ý : tôi nhấn mạnh đến giới trẻ và trí thức. Chẳng phải vì tôi thuộc vào thành phần ấy. Mà vì đó là khía cạnh mà tôi muốn hạn chế trong đề tài của tôi. Âu Mỹ đang mở lòng tiếp nhận một tư tưởng, một tôn giáo mà họ cho là rất trẻ và rất hiện đại. Hiện đại : đó là khía cạnh của đề tài rộng lớn mà tôi sẽ nói chuyện với quý vị hôm nay : tại sao Phật giáo bành trướng được ảnh hưởng trên Âu Mỹ ? Bài nói chuyện của tôi sẽ gồm 4 điểm vây quanh chủ đề hiện đại. Trong điểm thứ nhất, tôi sẽ cắt nghĩa thế nào là hiện đại. Trong điểm thứ hai, tôi trình bày : Phật giáo thích hợp với hiện đại như thế nào. Trong điểm thứ ba, tôi sẽ nói : thế nhưng chính hiện đại đang bị khủng hoảng. Trong điểm thứ tư, tôi trả lời : chính vì hiện đại bị khủng hoảng mà Phật giáo lại càng thích ứng. Trong suốt bài nói chuyện của tôi, và nhất là trong phần kết luận, các bạn sẽ nhận ra rằng tôi nói chuyện phương Tây mà thật ra là tôi nói chuyện Việt Nam. Mở cửa nhìn ra thế giới, chính là để biết mình là gì và biết mình phải làm gì.

I. Vậy thì, điểm thứ nhất: Thế nào là hiện đại? Hiện đại là gì? 

Từ ngữ này đã trở thành quá phổ thông, đã bị pha loãng ra trong ngôn ngữ thường ngày, ở ta cũng như ở Âu Mỹ, cho nên phải trở về lại với lịch sử để tìm bản chất của nó. Thông thường, ta dùng từ hiện đại để nói cái gì là mới, ngầm ý tán thưởng : mới là hơn cũ, nay là hơn xưa. Thì cũng đúng thôi ! Nhưng có người sẽ nói trái lại : chắc gì mới đã hơn cũ, chắc gì nay đã hơn xưa ! Ở thời nào cũng vậy, và ở xã hội nào cũng vậy, hai khuynh hướng cứ đối chọi nhau : một muốn đi tới, một muốn kéo lui, một cách tân, một hoài cổ, bên nào cũng muốn biện minh khuynh hướng của mình, và nếu biện minh có hệ thống thì trở thành ý thức hệ, trở thành chủ nghĩa, “ chủ nghĩa hiện đại ” chống lại “ chủ nghĩa truyền thống ”. Để tránh cả hai cực đoan, cực đoan của phe mới cũng như cực đoan của phe cũ, tôi lần theo chiều lịch sử phân tích đâu là những yếu tố tạo thành cái mà ta gọi là hiện đại.

Yếu tố quan trọng nhất là tự chủ, là con người tự chủ, con người tự mình làm chủ mình. Làm chủ là thế nào ? Kant đã cắt nghĩa bằng một câu bất hủ khi được hỏi : “ Khai Sáng là gì ? ” Ông trả lời : “ Là con người bước ra khỏi tình trạng vị thành niên ”. Trước khi tư tưởng Khai Sáng bừng nở, con người hãy còn thơ ấu, phải vịn vào tay người lớn mà đi, bây giờ đi được một mình. Chữ Pháp, chữ Anh làm rõ hơn nghĩa đó. Autonomie có gốc Hy Lạp là autos (tự mình) và nomos (luật) : con người tự mình cai trị mình theo luật tự mình làm lấy, chứ không phải luật do người khác làm ra và bắt mình phải theo. Và luật do mình làm ra dựa trên cái gì ? Dựa trên lý trí, lý tính mà đã là người thì ai cũng có. “ Hãy có can đảm sử dụng lý tính của chính mình ! ” : đó là châm ngôn của Khai Sáng và cũng là châm ngôn của con người hiện đại. Đừng dựa nữa vào bất cứ cái gì ở ngoài con người, nhất là ở trên cao. Hãy đứng dậy, đừng vịn nữa vào Thượng Đế !

Từ yếu tố quan trọng nhất đó, từ tự chủ, cả một loạt các yếu tố khác sáng rõ ra, bắt đầu là sự giải phóng của lý tính phê phán, bởi vì phê phán là chức năng của lý tính. Không có gì được thoát ra khỏi phê phán, không có đối tượng nào được xem là Tuyệt Đối, là húy kỵ, kể cả Thượng Đế, kể cả Nhà Thờ. Kant hô to : “ Hãy dám tư tưởng ! ” Không có lĩnh vực nào là lĩnh vực riêng của bất cứ quyền uy nào : tất cả đều phải bước qua “ tòa án của lý tính ”.

Trước tòa án đó, bị cáo mà tư tưởng hiện đại nhắm đến trước tiên là lòng tin tôn giáo. Phải giải phóng lý tính ra khỏi lòng tin. Phải giải phóng Galilée ra khỏi lòng tin nô lệ, tin rằng mặt trời xoay chung quanh trái đất. Với lý tính, khoa học sẽ phát triển, và khoa học có khả năng vén những tấm màn bí mật của vũ trụ mà lòng tin cố cản. Khoa học, tư tưởng khoa học, đó là ánh sáng dẫn đường cho tính hiện đại, giúp con người tự mình biến đổi thế giới, làm thành thế giới của con người, đập tan mọi xiềng xích của mê muội. Khoa học sẽ phát triển không ngừng, do đó tiến bộ cũng đi tới không ngừng, tiến bộ giống như mũi tên bắn ra, chỉ bay thẳng phía trước, không ngoằn ngoèo, vòng vo.

Với tự chủ của con người trưởng thành, với lý tính được giải phóng ra khỏi lòng tin, với khoa học vén màn bí mật, các bạn thấy lịch sử của tư tưởng Âu châu cứ dần dần đi vào chiều hướng củng cố địa vị của con người, bắt đầu từ thời Phục Hưng (thế kỷ XIV-XVI). Chiều hướng đó, khuynh hướng đó, cao trào đó, tên của nó là nhân bản chủ nghĩa (humanisme). Không thể hiểu được tư tưởng Âu châu nếu không thấy cái hướng đi đó của chủ nghĩa nhân bản, và cũng không thể hiểu được hiện đại là gì nếu trước hết không hiểu sự giằng co, có khi âm thầm, có khi dữ dội, giữa Thiên chúa giáo và nhân bản chủ nghĩa (2). Cố gắng, cố gắng không ngừng để phát triển, phát triển không ngừng tất cả những khả năng của con người để đừng làm mất đi bất cứ cái gì làm con người lớn lên, làm con người vinh thăng. Lớn lên bằng cách nào trong lịch sử Âu châu ? Bằng cách làm bớt đi, làm nhỏ dần Thượng Đế. Cho đến thế kỷ 19 thì Nietzsche loan báo : “ Thượng Đế chết rồi ! Chúng ta đã giết ! ”

Sự thực là Thượng Dế vẫn còn đấy thôi, nhưng thay hình đổi dạng, không còn là Thượng Đế nhân dạng nữa. Mà cũng chẳng còn thống trị nữa trong tư tưởng, trong đời sống xã hội, trong luật pháp, trong chính trị, trong sinh hoạt thường ngày của người Âu châu. Thế kỷ 20 không còn đặt vấn đề giết Thượng Đế nữa, bởi vì người ta sống ngoài vòng cương tỏa của Thượng Đế, chẳng cần biết Thượng Đế là ai, có hay không, và chính thái độ dửng dưng đó làm các người bênh vực Thượng Đế bực mình còn hơn là thái độ chống đối Thượng Đế. Xã hội ngày nay ở châu Âu đi vào tình trạng mà các nhà xã hội học gọi là thế tục hóa. Thế tục hóa : đó cũng là một trong những yếu tố đặc trưng của hiện đại. Trên quá trình hiện đại hóa đó thì Tây phương gặp đạo Phật.

II. Đạo Phật hiện đại như thế nào trước mắt Tây phương? 

Con người Tây phương khám phá ra rằng cách đặt vấn đề của đạo Phật đáp ứng nhu cầu của thời đại mới. Tây phương đang chối từ Thượng Đế thì đạo Phật giải thích không có Thượng Đế. Tây phương phải nhờ Darwin để cắt nghĩa rằng vũ trụ không phải do một Đấng nào sáng tạo ra cả trong bảy ngày thì đạo Phật đã nói cách đây hơn 2500 năm rằng thời gian là vô thủy vô chung, vũ trụ là vô cùng vô tận. Tây phương ngay ngáy lo sợ về ngày phán xét cuối cùng của Thượng Đế thì Phật giáo nói : không có ai phán xét ta cả, chỉ có con người phán xét con người thôi. Tây phương trăn trở về những vấn đề siêu hình thì Phật giao kể chuyện mũi tên : khi anh bị mũi tên độc bắn vào thân thì anh phải rút nó ra ngay hay anh ca vọng cổ hỏi mũi tên do ai bắn, lý lịch thế nào, hộ khẩu ở đâu. Rút mũi tên ra : đó là nhu cầu giải phóng con người ở Tây phương và họ thấy nơi Phật giáo một đáp số hợp với lý tính, đặt nặng trên kinh nghiệm, trên thực hành, và kiểm chứng được bằng kết quả bản thân, ở ngay đời này, chứ không phải đợi đến khi lên thiên đường, xuống địa ngục.

Hợp với lý tính : người Tây phương ngưỡng mộ nét đặc biệt đó của Phật giáo, làm Phật giáo khác với các tôn giáo khác. Phật giáo từ chối lòng tin nếu không đặt cơ sở trên trí tuệ. Bởi vậy, trong Phật giáo không có tín điều. Tây phương ngưỡng mộ kinh Kâlâma khi Phật dạy : Đừng vội tin một điều gì dù điều đó được ghi trong kinh điển hay sách vở. Hãy quan sát, suy tư, thể nghiệm, thực chứng rồi mới tin. Tinh thần đó xuyên suốt kinh kệ Phật giáo. Người trí thức Tây phương thấy tinh thần đó hợp với khoa học, hợp với đầu óc phê phán. “ Phật giáo là tôn giáo duy nhất thích ứng với khoa học hiện đại ”, Einstein đã phát biểu như vậy.

Tại sao Phật giáo hợp với khoa học? Tại vì Phật giáo không nói điều gì mà không có kiểm chứng. Phật giáo nói : sự vật là vô thường. Hãy nhìn chung quanh với mắt của mình, kinh nghiệm của mình : có cái gì là thường còn đâu? Cái thường còn duy nhất là khoảnh khắc này đây. Vậy thì tìm thiên đường ở đâu nếu không phải nơi chính cái khoảnh khắc này ? Hạnh phúc nằm ngay nơi mỗi khoảnh khắc : đó là bài học hiện đại quý giá nhất mà Phật giáo đem đến cho người Tây phương. Và hãy nhìn thêm nữa : mọi sự mọi vật đều tương quan lẫn nhau mà có và tương quan lẫn nhau mà diệt. Màu hồng nơi đóa hoa kia có phải tự nó mà có không? Đâu phải ! Nếu không có mặt trời thì nó đâu có hồng thắm như vậy? Nhưng mặt trời có phải là tác giả duy nhất của màu hồng kia không? Không! Vì nếu không có mưa thì làm sao hoa sống? Nhưng mưa có cũng là do mây, mây có cũng là do hơi nước. Cái này có thì cái kia có, cái này không thì cái kia cũng không. Đó là luật vô ngã của Phật giáo và cũng là luật tương quan tương sinh. Ai đọc sách của nhà vũ trụ vật lý học Trịnh Xuân Thuận đều biết : những luật đó có nhiều điểm hội tụ với khoa học vũ trụ vật lý. Áp dụng được luật đó vào đời sống bản thân, đời sống gia đình, đời sống xã hội, cam đoan không cần tìm thiên đường ở đâu xa. Đó là chưa kể đến luật nhân quả mà ai cũng có thể dễ kiểm chứng. Từ đó, người Tây phương đi đến một cái nhìn hiện đại hơn nữa vào bản chất của cuộc đời để hiểu chữ “ khổ ” trong Phật giáo. Họ chất vấn Thượng Đế : Nếu Thượng Đế là toàn năng thì sinh ra làm chi thiên tai, động đất, triều cường, dịch này dịch nọ giết hại phút chốc hàng trăm ngàn người như vậy ? Nếu Ngài là nhân từ thì sao con người khổ thế, con người khổ thế thì Ngài ở đâu ? Phải chăng, người Tây phương hỏi, khổ nằm ngay trong bản chất của cuộc đời như muối nằm trong biển, mà sinh lão bệnh tử chỉ là những khía cạnh dễ thấy nhất ? Từ đó, Tây phương hiểu chữ “ niết bàn ” của Phật giáo đúng hơn hồi thế kỷ 19 : niết bàn là hết khổ, mà hết khổ là tự mình. Bản thân tôi, mỗi khi tôi nghe ai cầu cho người chết được siêu thoát, tôi không khỏi cười thầm, bởi vì “ siêu ” là vượt lên, “ thoát ” là giải thoát, vượt lên trên tham sân si thì giải thoát, vậy thì nên cầu cho cả người sống được siêu thoát. Tôi không dám đùa đâu, người Tây phương hiểu điều đó hơn ta, bởi vì họ hiểu tư tưởng nhân bản của chính họ: nhân bản nghĩa là con người vượt lên trên con người, con người có đủ khả năng để vượt lên trên chính mình.

Nhưng vượt lên như thế nào, cụ thể bằng cách nào? Đây là cái mới mà Phật giáo đem đến cho Tây phương và đem đến trong tinh thần khoa học. Trong lịch sử, Tây phương đã vượt quá ta hằng mấy thế kỷ nhờ khám phá thế giới bên ngoài. Nhưng đến một lúc họ bỗng giật mình thấy rằng khám phá thế giới bên ngoài không đủ để đem lại hạnh phúc như họ tưởng bởi vì con người còn có đời sống ở bên trong. Ngài Đạt Lai Lạt Ma nhắc họ : “ Những vấn đề của chúng ta, dù đến từ bên ngoài, như chiến tranh, như bạo lực, như tội ác, hay đến từ bên trong dưới hình thức khổ đau về tâm lý hay tình cảm, đều sẽ không tìm ra giải pháp chừng nào chúng ta còn không hiểu chiều sâu nội tâm của ta ” (3). Đó là lúc mà ngài và các vị sư đắc đạo của Tây Tạng đến Âu Mỹ, mang theo một ánh sáng khoa học mới rọi soi vào nội tâm của con người, để làm một cuộc cách mạng thứ hai mà người Tây phương gọi là “ cách mạng ở bên trong ”, bổ túc cho “ cách mạng ở bên ngoài ” mà Tây phương đã từng làm, từng biết với khoa học. Chìa khóa của hạnh phúc không nằm ở đâu khác hơn là trong nội tâm mỗi cá nhân. Mà muốn nhìn thấy cái chìa khóa đó thì phải rọi soi vào bên trong bằng những kỹ thuật thiền định mà các nhà sư Tây Tạng đã thực chứng do chính kinh nghiệm của họ. Trong lĩnh vực này, đừng hòng các lang băm đến làm ăn bịp bợm : khoa học Âu Mỹ đã đặt nền móng vững chắc cho cuộc thám hiểm vào não bộ của con người. Các nhà sư Tậy Tạng đã đem chính bản thân để các máy móc tối tân trong các đại học danh tiếng nhất của Mỹ đo lường ảnh hưởng của thiền định trên não bộ. Họ không phải chỉ đem lời nói, họ đem thực hành, họ đem kỹ thuật, phương pháp cụ thể để các nhà khoa học quan sát, phán xét tính hiệu nghiệm của thiền định, góp phần lớn vào sự phát triển của ngành sinh học thần kinh. Tôi xin thú thực : bản thân tôi có tính đa nghi, khi đọc lịch sử đức Phật, tôi không hiểu làm sao Phật có thể ngồi thiền định dưới bóng cây bồ đề trong suốt 49 ngày. Bây giờ thì tôi hiểu : mỗi người chúng ta đều có một sức dự trữ tâm linh mà ta không ngờ bởi vì chưa bao giờ sử dụng. Tôi sẽ trở lui lại điểm này – cuộc hành trình của ta tìm ta để chữa bệnh cho chính ta và chữa bệnh cho thời đại.

Bây giờ, tiếp tục vấn đề nhân bản và khoa học, có phải sức quyến rũ của Phật giáo chỉ nằm ở tính khoa học của Phật giáo mà thôi hay không ? Tôi không nói đến chiều sâu của triết lý Phật giáo ở đây, cũng không nói đến tính minh triết mà Tây phương đang tìm lại. Tôi chỉ hạn chế trong một vấn đề nữa thôi : đạo đức. Đạo đức học ở Tây phương là những răn cấm, những mệnh lệnh. Người Tây phương hiện đại có cảm tưởng như có ngón tay chỉ vào trán và ra lệnh : mày không được thế này, mày không được thế kia, mày làm là phạm tội. Phạm tội với ai ? Tại sao như thế là phạm tội ? Tại sao tội đó phải nhờ một người khác giải tội với Trên Cao ? Đạo đức đó, con người hiện đại chối bỏ vì họ cảm thấy như vậy là hãy còn vị thành niên. Đạo đức của Phật giáo trái hẳn, bắt nguồn từ con người. Không ai ra lệnh, không ai răn cấm. Phật giáo nói : tham thì khổ, sân thì khổ, si thì khổ. Từ thì vui, bi thì vui, hỷ thì vui, xả thì vui. Từ bi hỷ xả, cứ thực hành sẽ thấy vui. Tham sân si, cứ mắc vào sẽ thấy khổ. Đừng giết hại, đừng nói dối, đừng trộm cắp, đừng tà dâm, đừng say rượu : đó là năm điều tôi tự nguyện với tôi, làm được đến đâu chính tôi nhẹ nhàng đến đó. Đạo đức của Phật giáo là thực nghiệm, nhắm mục đích làm cho con người tốt hơn đã đành, nhưng cốt nhất là làm nội tâm thanh thản, bởi vì thanh thản chính là hạnh phúc.

Hơn thế nữa, đạo đức Phật giáo còn thức tỉnh con người hiện đại ở Tây phương ở chỗ nới rộng lòng từ bi và ý thức liên đới ra khắp chung quanh, không những giữa người với người, mà còn giữa người với thú vật, với thiên nhiên. Dưới ảnh hưởng của tôn giáo cổ truyền của họ, Tây phương đã cổ vũ, huy động từ thế kỷ 17 mọi cố gắng để chinh phục, cai trị thiên nhiên. Chiến công đó, nhân loại cám ơn. Xẻ sông, lấp núi : cái gì con người cũng làm được, thiên nhiên đã bị nhân hóa. Nhưng thiên nhiên cũng đã bị khai thác, bóc lột đến kiệt quệ, rừng trọc đầu, mưa hóa chất, nước nhiễm độc, chúng ta biết rõ hơn ai hết. Và rốt cục, con người ăn trong miếng ăn những chất độc do chính con người thải ra. Đạo đức đối với thiên nhiên trở thành trách nhiệm của chính con người. Các tôn giáo khác nói : không được giết người. Phật giao nói : tôi nguyện không sát sinh, nghĩa là không giết sự sống, và sự sống đó, thú vật đều có, cây cối thiên nhiên đều có, vũ trụ, khí quyển, trái đất đều có, tất cả đều liên đới với con người, phải yêu thương nhau như một thì mới sống còn với nhau.

Tôi vừa động đến một vấn đề hiện đại có tính tiêu cực : vấn đề môi trường. Bởi vì hiện đại không phải cái gì cũng hay. Hiện đại cũng có lắm tiêu cực. Hiện đại cũng đang gặp khủng hoảng. Bởi vậy, sau khi tán thưởng hiện đại và giải thích Phật giáo hiện đại như thế nào, tôi bắt qua điểm thứ ba, trình bày những khủng hoảng của hiện đại.

III. Khủng hoảng của hiện đại

Khủng hoảng quan trọng nhất của hiện đại là khái niệm về Tiến Bộ. Hồi thế kỷ 19, với sự phát triển thần kỳ của khoa học, ai cũng lạc quan về tương lai. Cha đẻ của môn xã hội học, Auguste Comte, xây dựng cả một hệ thống lý thuyết cắt nghĩa rằng lịch sử của nhân loại là lịch sử của tiến bộ, tiến bộ của đầu óc con người từ giai đoạn thần linh qua giai đoạn siêu hình để cuối cùng đến giai đoạn khoa học. Đó là một sự tiến bộ không ngừng và giai đoạn sau tốt đẹp cho con người hơn giai đoạn trước về phúc lợi, vật chất cũng như tinh thần. Lạc quan đó, Tây phương đã thấy đổ vỡ phũ phàng với chiến tranh thế giới thứ hai. Một nước văn minh như nước Đức trở thành một nước dã man, phi nhân, trong học thuyết cũng như trong hành động. Nước Đức quốc xã đưa ra hình ảnh ghê rợn của một phá sản tinh thần, khi phá sản đó xảy ra trong chính niềm tin vào “ tiến bộ đạo đức ” mà người ta chờ đợi ở hiện đại. Rồi bom nguyên tử, rồi Hiroshima, rồi chiến tranh lạnh, rồi leo thang vũ khí tận diệt nhân loại, đâu là Tiến Bộ, đâu là đạo đức của khoa học ? “ Khoa học mà không có lương tâm là đổ nát của linh hồn ”, câu nói ấy trở thành thời sự trước mắt. Khoa học là mục đích nhưng lương tâm phải là người bạn đồng hành. Nói là nói thế, nhưng trên thực tế người bạn đồng hành của khoa học lại là chiến tranh, buôn bán vũ khí, chiến tranh làm phát triển khoa học, khoa học phục vụ chiến tranh.

Khái niệm “ tiến bộ ” cũng được cảnh báo cả khi khoa học làm đúng nhiệm vụ của khoa học là tìm tòi, nghiên cứu, phát minh, vén màn bí mật của vũ trụ và đời sống. Không có gì quý hóa cho con người hơn là những phát minh càng ngày càng nhiều trong y khoa. Khám phá về tế bào gốc chẳng hạn là một trong những phúc lợi lớn mà nhân loại chờ đợi. Nhưng lương tâm có cho phép ta tạo ra đồng loạt vô số những người y chang giống nhau trong tương lai ? Chẳng lẽ khoa học cũng bắt chước Tôn Hành Giả nhổ một sợi lông, thổi một cái, để biến ra thành cả trăm con khỉ giống hệt nhau, chẳng biết con nào là khỉ gốc họ Tôn ? Hiện đại đang gặp phải vấn đề của “ đạo đức sinh học ”, mà đạo đức sinh học không thể không liên quan đến cái nhìn của tôn giáo.

Cuối cùng, khái niệm “ tiến bộ ” còn được đặt lại khi tiến bộ vật chất đưa đến xã hội tiêu thụ trong đó con người bị tha hóa, nghĩa là mất địa vị chủ. Đây là mê lộ trong đó con người Âu Mỹ nhởn nhơ sa vào. Muốn phồn thịnh kinh tế, phải sản xuất. Muốn sản xuất, phải có tiêu thụ. Muốn có tiêu thụ, phải kích thích nhu cầu, không có nhu cầu cũng phải kích lên cho có. Nhu cầu này được thỏa mãn, phải kích lên nhu cầu khác, nhu cầu phải luôn luôn mới để đáp ứng sản xuất phải mới luôn luôn. Hiện đại đòi hỏi những con người có lý tính. Đâu còn là lý tính nữa trước cuộc chạy đua không ngừng đuổi theo nhu cầu giả tạo, đuổi theo tiêu thụ phù du ? Con người trở thành nô lệ của quảng cáo, và quảng cáo, tuyên truyền, có đủ mánh lới để tước bỏ phê phán ra khỏi đầu óc người nghe. Lúc nhỏ, ở lớp 11, 12, tôi học câu thơ của Nguyễn Công Trứ : “ Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc ”. Biết đủ thì đủ, tìm đủ thì biết đến bao giờ mới thấy đủ ! Ấy là câu thơ dí cái chìa khóa vào tay ta để mở cửa thoát ra khỏi mê lộ tiêu thụ. Nhưng cái tài của quảng cáo là mê hoặc, đưa con người tiêu thụ vào siêu thị mà làm người ta tưởng vào chốn đào nguyên !

Tha hóa : con người hiện đại thoát ra khỏi tha hóa đối với Trên Cao thì lại rơi vào tha hóa ở dưới đất. Tha hóa trước sản phẩm, hàng hóa. Tha hóa trước thị trường. Bởi vì cái gì bây giờ cũng trở thành thị trường, cái gì cũng bị thị trường khai thác, kể cả lĩnh vực tâm linh. Phật giáo cũng bị thôi, và bị chính vì sự thành công của mình. Tôi chỉ lấy một ví dụ thôi : cái nhãn hiệu “Nirvana” trên một sản phẩm sắc đẹp của quý bà. Thoa kem ấy vào, lập tức thấy cực lạc ! Cực lạc bỗng trở thành nạn nhân của tha hóa. Tôi nhấn mạnh điểm này để giải thích cho các bạn về sự biến đổi của lòng tin ở Tây phương. Đúng là người Âu châu có vấn đề với Thượng Đế. Đúng là nhà thờ vắng tín đồ. Đúng là linh mục khan hiếm, phải cầu viện đến tận các linh mục Phi châu. Đúng là người Âu châu không đi tìm nữa trong tôn giáo truyền thống của họ câu giải đáp lớn cho những khắc khoải của tâm linh, mà đi tìm những phương thuốc tức thì trên hạ giới này, trên đời sống này, ở đây và bây giờ, here and now. Đúng như quy luật của thị trường, ở đâu có cầu thì ở đấy có cung. Hàng loạt tín ngưỡng lang băm, chính tà lẫn lộn, xuất hiện trên thị trường tâm linh, tranh nhau giành khách. Và khách ở đây là những người có đời sống vật chất đầy đủ, nhưng bơ vơ, cô đơn, mất tập thể, mất phương hướng, mất ý nghĩa sống. Ngày trước, con người Âu châu cũng yếu đuối trước Thượng Đế, nhưng họ có cái gì để tin, họ có cái chắc chắn. Bây giờ họ cũng yếu đuối, nhưng không có cái gì để tin nữa, họ mất chân đứng, họ mất quân bình, họ mất chiều cao lẫn chiều ngang, họ lung lay. Và vì họ lung lay, họ tưởng cần phải củng cố cái “ tôi ” của họ, cái “ tôi ” mà một chủ nghĩa cá nhân quá đà đã đề cao lên thượng đỉnh. Các bạn hiểu tại sao ngành phân tâm học phát triển như thế ở Âu Mỹ, tại sao các bác sĩ phân tâm học đông khách nhà giàu và trí thức : họ đi tìm cái “ tôi ” của họ ! Nhưng cái “ tôi ” của họ trốn ở đâu ? Một số người đi tìm trong cùng tận thâm sâu bí ẩn của ý thức dưới ánh đèn pin của ông Freud. Một số, nông cạn hơn, nghĩ rằng cái “ tôi ” của mình là cái thân này đây, phải làm cho nó mạnh, khỏe, đẹp, và nhất là trẻ mãi, để “ cực lạc ” mãi. Tất nhiên họ biết : cung cấp món ăn cho cái thân thì cũng phải cung cấp món ăn cho cái tâm, vì tâm không yên thì thân cũng khó khỏe. Nhưng họ ăn gì trên mâm cơm tinh thần của họ ? Ăn lẩu. Nghĩa là hổ lốn. Chút tôm, chút mực, chút thịt gà. Chút Chúa chút Phật. Bác ái lộn xà ngầu với từ bi. Lấy một chút chỗ này, một chút chỗ kia, cái gì mà cá nhân mỗi người thấy hoặc tưởng thích hợp cho riêng mình thì gắp bỏ chung vào cái lẩu nước xúp tâm linh. Người Pháp gọi cách thực hành tân thời này là “ bricolage ” – lắp ghép thủ công.

Trong chiều hướng đó, ngồi thiền phát triển khắp nơi tại Âu Mỹ. Tất nhiên là hay. Nhưng trong cái hay đó, coi chừng cái dở. Cái dở là thị trường tâm linh đánh đúng vào tâm lý con người thời đại, quảng cáo ngồi thiền như một kỹ thuật để gìn giữ sức khỏe và chỉ như một kỹ thuật mà thôi. Như một kỹ thuật, quảng cáo biến ngồi thiền thành một thứ kem xức mặt, xức vào thì da mặt mát ra, nhìn vào gương thấy cái “ tôi ” của mình như gái một con trông mòn con mắt. Chắc các bạn biết thần thoại Hy Lạp về anh chàng Narcisse. Anh chàng mê mình đến độ ngất ngây soi bóng mình trên mặt nước, soi gần, thật gần, môi chạm môi, và anh chàng lộn cổ xuống ao. Con người hiện đại ở Tây phương cũng mê cái “ tôi ” của mình như thế, ve vuốt nó, hôn nó, tưởng nó có thật trong một dòng sông ảo. Nhà sư danh tiếng Tây Tạng Chögyam Trungpa gọi đùa khuynh hướng đó là “ chủ nghĩa duy vật tâm linh ” (“ spiritual materialism ”). Nhưng đó đích thực là một vấn đề, một thách thức đối với hiện tại và tương lai của Phật giáo tại Âu Mỹ. Bởi vì ngồi thiền không phải chỉ là một kỹ thuật, lại càng không phải để phục vụ cho cái “ tôi ”. Ngồi thiền, chính là để thấy cái “ tôi ” là không có. Và như vậy là tôi bắt qua điểm thứ tư : Phật giáo trong thời hiện đại bị khủng hoảng.

IV. Phật giáo và khủng hoảng của hiện đại

Nhiều tác giả gọi thời đại này là “ hậu hiện đại ”. Tôi không đồng ý với khái niệm này nên chỉ đề cập ở đây hiện tượng khủng hoảng thôi. Và tôi cũng chỉ xin hạn chế vấn đề vào một khủng hoảng thôi là khủng hoảng của cái “ tôi ”.

Trước hết, tôi không phủ nhận phúc lợi của việc ngồi thiền, dù cho ngồi thiền chỉ để tăng cường sức khỏe. Ai đã ngồi thiền và ngồi thiền đúng kỹ thuật rồi đều nói : không phải chỉ sức khỏe được tăng cường, tâm hồn cũng được thư thái. Bản thân tôi không phải chỉ chứng nghiệm một lần mà cả ngàn lần : chỉ cần biết nén giận trong một giây thôi, đừng cho nó nổ ra, đã là khóa được cái cửa của địa ngục. Huống hồ ngồi thiền không phải chỉ trong một giây ! Bởi vậy, người Tây phương biết đưa việc ngồi thiền vào nhiều lĩnh vực : bệnh viện, nhà tù, trường học, công sở, xí nghiệp… Họ làm có phương pháp, bài bản, làm việc gì cũng phải làm cho đến nơi đến chốn.

Nhưng thiền không phải chỉ là thế. Thiền là tự biết mình, và tự biết mình là để quên mình. Quên mình là để nhập làm một với tất cả những gì hiện hữu. Đó là câu định nghĩa của Đạo Nguyên mà các thiền viện ở Âu Mỹ áp dụng như kinh nhật tụng. Thế nào là tự biết mình ? Tôi không muốn đưa các bạn vào lý thuyết xa xôi. Chỉ nói một hành động nhỏ nhặt, cụ thể, của một người Âu Mỹ khi lần đầu tiên bước vào thiền đường. Cử chỉ đầu tiên là cởi giày. Cởi giày, xếp ngay ngắn. Bước nhẹ vào thiền đường. nghe một mùi hương thoảng, gặp một im lặng thẳm sâu, đi trên một sàn gỗ sạch không một hạt bụi, thấy một không gian không chướng ngại mở rộng ra trước mắt. “ Cởi giày ”: đó là bài kinh đầu tiên của họ. Cởi vướng mắc ra, giải thoát cho hai bàn chân, hai bàn chân quý lắm, bao nhiêu nút thần kinh nằm ở trong đó, hai bàn chân quý lắm, nhờ nó mà mình đứng vững được, hai bàn chân quý lắm, hãy biết quý hai bàn chân như chưa bao giờ mình biết quý nó trước đây, hãy nghe hai bàn chân đang hạnh phúc khi gặp hơi mát của sàn gỗ, nó và cái sàn gỗ đang tan thành một, người bước vào phòng đang biến thành một với gian phòng trống, với im lặng mênh mông. Bàn chân quên nó. Người bước vào phòng quên mình, để cái “ tôi ” ngoài cửa, như để đôi dép.

Từ khi sinh ra, ta đã muốn chỉ huy cả thế giới, sai khiến mọi người chung quanh. Đói, khóc ầm lên, mẹ phải đưa ngay bầu sữa. Thèm hơi ấm, mếu máo để được người bồng. Muốn cái gì phải có ngay cái nấy, không thì la hét. Ta là trung tâm của vũ trụ, tất cả mọi người đều phải chiều ta. Lớn lên, ta cũng vậy thôi, 99% của cuộc đời ta được xài phí để lái thiên hạ, bắt thiên hạ phải thỏa mãn ý muốn của ta. Thậm chí, cái mà ta gọi là “ tình yêu ” suy cho cùng cũng chỉ là nhu cầu cần có một quan hệ gần gũi để ta cảm thấy sung sướng. Có lẽ ở đâu cũng vậy, nhưng trong văn hóa của cá nhân chủ nghĩa Âu Mỹ, nghĩ đến ta được xem là chuyện bình thường, tất nhiên. Ai lái người khác giỏi để phục vụ mình tốt, người ấy được xem là thành công. Thiền là trái ngược lại. Không nhắm tích tụ. Không nhắm chinh phục. Càng nhiều cái “ có ” càng ít cái “ là ”, cái tinh túy, cái bản chất, cái đem lại hạnh phúc. Và tôi “ là ” gì, chính là ở phút này đây. Ở phút này đây, tôi còn sống, còn thở, còn nói, còn có các bạn để nghe, còn có nắng đẹp ngoài kia, gió mát đang thổi, hạnh phúc vô biên, hạnh phúc được sống với cái khoảnh khắc này, được làm một với các bạn, được làm một với tất cả, được làm một với tờ giấy trước mắt tôi. Thiền không phải là ngồi yên. Thiền là không đi ăn mày nữa, không ngửa tay xin xu hào nơi người khác, nơi bên ngoài, bởi vì thiền là biết rằng cả một kho tàng châu báu nằm ở trong ta, hãy nhìn vào để thấy, và để chiêm nghiệm rằng ta càng trống đi cái “ tôi ” thì kho tàng ấy càng đầy.

Các thiền viện Âu Mỹ biết nhắm đến cái mục đích ấy. Kho báu trong tôi càng đầy, khả năng nhập thành một với mọi vật chung quanh càng nhạy bén, và khi ấy, tôi khổ với cái khổ của bạn, tôi vui với cái vui của bạn, tôi không còn nữa, bạn cũng không còn nữa, chỉ còn cái khổ chung, cái vui chung. Định nghĩa của chữ “ từ bi ” là như vậy, và ngồi thiền chính là để mở rộng lòng từ bi. Tôi đã là một với tất cả, làm sao tôi không thương tất cả, từ thiên nhiên đến loài vật, từ người gần đến người xa ?

Tôi biết : đó là lý thuyết rất cao mà không phải ai cũng đạt được hoặc hiểu được. Nhưng, tôi xin quả quyết : cứ bước dần đi mỗi bước rồi sẽ thấy : quên mình nhiều nhiều hơn một chút, nghĩ đến người khác nhiều nhiều hơn một chút, ấy là con đường đi đến hạnh phúc. Và xin các bạn hãy biết điều này : các người Âu Mỹ ngồi trong thiền đường phần đông là trí thức hoặc thuộc thành phần cao trong xã hội, đã nắm khá vững lý thuyết Phật giáo và có lòng hướng đến một cái gì cao hơn đời sống vật chất, vị kỷ. Tôi nói điều này là để nghĩ đến tương lai của Phật giáo ở Âu Mỹ. Phật giáo hạn chế ở tầng lớp trí thức hay mở rộng ra cho đại chúng ?

Tôi không có thì giờ để đi sâu vào câu hỏi này. Chỉ xin nói rằng : bộ não của con người gồm hai phần : khả năng lô-gích, trừu tượng, phân tích, tương ứng với não bộ phía trái ; khả năng nhận ra sự giống nhau giữa những cái khác nhau, trực giác, tổng hợp, tương ứng với não bộ phía phải (4). Tác giả Frédéric Lenoir cho rằng văn minh Tây phương chú trọng tác động trên vũ trụ, tương ứng với việc đặt ưu tiên trên não bộ phía phải. Phật giáo đến Tây phương đã đóng vai trò tích cực trong việc làm quân bình hai vùng trong não bộ con người Tây phương. Trong cái ý đó, câu nói nổi tiếng của nhà sử học Arnold Toynbee đã thành dễ hiểu : “ Sự gặp gỡ giữa Phật giáo và Tây phương là biến cố có ý nghĩa nhất của thế kỷ 20 ”.

Tôi cũng nhân cái ý đó để nói thêm rằng Phật giáo chính là sự quân bình và trước hết là quân bình giữa trí tuệ và lòng tin. Không có trí tuệ thì không hiểu được đức Phật. Nhưng không có lòng tin thì cánh cửa cuối cùng của trí tuệ vẫn không mở ra. Trí tuệ cũng như hoa mai. Lòng tin cũng như hơi ấm đầu tiên của mùa xuân. Chạm vào một điểm của hơi ấm đó thôi, hoa nở bung. “ Nhất điểm xuân quang xứ xứ hoa ” là vậy. Chỉ một làn gió xuân thoảng qua thôi, chốn chốn hoa mai bừng nở. Thiền là cây cầu bắt qua giữa trí tuệ và lòng tin. Đó là pháp môn – cánh cửa đạo – mở ra cho các bậc thượng thủ. Nhưng không phải ai cũng là thượng thủ cả, cho nên Phật giáo nói có đến “ bốn vạn tám ngàn pháp môn ” thích hợp với căn cơ của mỗi người. Ai giàu trí tuệ, như giới trí thức ở Âu Mỹ, đi vào Phật giáo bằng cửa thiền. Ai giàu lòng tin… Đây chính là tương lai của Phật giáo tại Tây phương. Bởi vì Phật giáo muốn lan tỏa ở đây phải biết rằng không phải ai cũng là trí thức. Vậy thì, có một nhánh Phật giáo nào ở Âu Mỹ có khả năng lan tỏa ra đại chúng chăng ? Có. Đó là Phật giáo Tây Tạng mà ngài Đạt Lai Lạt Ma là hình ảnh sống động. Phật giáo bám rễ được ở Tây phương là nhờ ngài và cả một loạt những nhà sư Tây Tạng xuất chúng qua giáo hóa tại đấy. Chỉ mỗi một việc xuất hiện của các vị đó thôi đã làm dấy động được lòng tin nơi quần chúng. Phật giáo Tây Tạng đáp ứng được những khắc khoải về tâm linh của quần chúng hơn là thiền tông đến từ các thiền sư Nhật Bản. Nhưng dù là thiền tông hay Phật giáo Tây Tạng, trí tuệ và lòng tin phải cùng bay với nhau như hai cánh của con đại bàng.

Các bạn đồng nghiệp trí thức và sinh viên thân mến, chính vì hai cánh của con đại bàng mà tôi chọn đề tài này để nói chuyện với các bạn hôm nay. Tôi đâu có nói chuyện bên Tây. Tôi nói chuyện bên ta ! Chúng ta đã lãng quên trí tuệ của thiền tông Yên Tử. Chẳng lẽ đạo Phật trí tuệ đã bay cả rồi qua bên Tây ? Chẳng lẽ Tây phương thừa hưởng hết tinh túy của Phật giáo ? May thay, chúng ta rất giàu lòng tin, nhưng buồn thay, lắm khi, lắm nơi, đó là tin nhảm, đó là mê tín, đó không phải là đạo Phật. Không, nhất quyết ta không để gãy chiếc cánh trí tuệ của con đại bàng Lý Trần. Nhất quyết ta củng cố lòng tin chân chính. Đó là nhiệm vụ của Tuần Lễ Văn Hóa hôm nay. Các bạn trí thức Nghệ An thân mến, hãy chắp lại hai cánh của con đại bàng lịch sử. Hãy bay với hai cánh vào hiện đại.

Cao Huy Thuần

 

Chú thích :

  1. Câu nói của Nietzsche, trích trong Frédéric Lenoir, Le bouddhisme en France trang 9.
  2. Fernand Braudel : Grammaire des civilisations, Arthaud-Flammarion, 1987, trang 371.
  3. Dẫn trong Frédéric Lenoir, La rencontre du bouddhisme et de l’Occident, Albin Michel, 2001, trang 318.
  4. Frédéric Lenoir, như trên, trang 353.

ĐẠO NÀO CŨNG LÀ ĐẠO

Có người cho rằng “đạo nào cũng là đạo”. Câu nói này thoạt nghe qua có vẻ hợp lý và là một ý tưởng hấp dẫn.  Nếu hiểu theo một cách đơn giản, trong phạm trù luân lý đạo đức là đạo nào cũng dạy con người làm lành tránh dữ, thì câu này rất hợp lý. Tuy nhiên, chúng ta cần phải suy xét và nhận định lại quan niệm đó qua lăng kính tôn giáo. (Xem đầy đủ ở đây.)

Trước hết có thể nói ngay rằng câu “đạo nào cũng là đạo” hay “đạo nào cũng tốt” chỉ là một câu nói xã giao thông thường hoặc để làm vừa lòng khách, vui lòng bạn hay có thể do sự thiếu thông tin về sự khác biệt giữa các tôn giáo.  Trong phạm vi bài này người viết thu gọn về sự khác biệt căn bản giữa hai tôn giáo lớn có đông đảo tín đồ tại Việt Nam là Kitô Giáo [01] và Phật Giáo để giúp cho những người đang đứng ở giữa ngã ba đường tầm Đạo với ấn tượng đạo nào cũng tốt để nhận thấy con đường nào phải lựa chọn. Việc chọn lựa là quyền của mỗi người. Dĩ nhiên mỗi người phải chịu trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Người viết chỉ xin chúng ta suy nghĩ đến sự thật.

Trước khi đi vào chi tiết, chúng ta cần ghi nhận rằng, Phật Giáo là một tôn giáo hoàn toàn khác biệt với các tôn giáo khác trên thế giới về mặt tư tưởng triết học.  Phật Giáo không chấp nhận giả thuyết có một vị Trời hay một vị Thượng Đế sáng tạo, không có giáo điều, không có một linh hồn bất tử vĩnh hằng, và không có một đấng quyền năng sáng tạo nào ngự trị trong cái gọi là định mệnh hay số mệnh của mỗi con người. Vì thế, điểm then chốt trong việc phân biệt giữa Phật giáo với các truyền thống tín ngưỡng lớn trên thế giới là vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo? Đối với Phật giáo, ý niệm về một “nguyên nhân đầu tiên” không hề được đặt ra để lý giải do bởi ý niệm về tánh không và duyên khởi.

Điểm khác biệt căn bản đầu tiên giữa hai đạo là Niềm TinTôn Giáo:

Đối với Kitô Giáo, Đức Tin là cốt lõi của đạo. Nếu không tin thì không thể trở thành một Kitô hữu được. Không tin thì không thể thực hành những gì mà đạo Kitô đòi hỏi được.  Đức Tin được ghi trong bản Kinh Tin Kính của các Tông Đồ (Apostle’s Creed) thường gọi tắt là Kinh Tin Kính. “Tôi tin kính Thiên Chúa, là Cha toàn năng, là Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình”. [02]

Đối với Phật Giáo, vị sáng lập tôn giáo này – Đức Phật Thích Ca – khuyên những người muốn theo Ngài chớ có tin một điều gì chỉ vì điều đó đã được một bậc đạo sư của mình nói ra, được phát xuất từ nơi có uy quyền, được kinh điển truyền tụng hay theo truyền thống từ xưa để lại; mà phải dùng lý trí và sự thông minh của mình để cứu xét và chỉ chấp nhận điều gì khi đã trải nghiệm được hạnh phúc an lạc. Ngài nói rằng “Ta không dạy ai đến để tin, nhưng đến để thấy và thực hành”. Điều này đã khuyến khích những người muốn đi theo Ngài hãy nghiên cứu kỹ càng những lời dạy của Ngài và để cho họ tự do quyết định là có nên chấp nhận những điều chỉ dạy đó không. Ngài không bảo ai đến và chấp nhận tôn giáo này nếu họ chưa hiểu những lời dạy của Ngài.[Kinh Kalama] [03].

Nói gọn lại Kitô Giáo là tôn giáo của “đức tin” (faith) và Phật Giáo là tôn giáo của “lý trí” (trí tuệ). [4]

Điểm khác biệt thứ hai giữa Kitô Giáo và Phật Giáo là quan niệm về giải thoát.

Đối với Kitô Giáo, thì sự giải thoát là sự “giải thoát khỏi tội lỗi qua một Đấng Cứu Rỗi“. Giáo lý giải thoát này được đặt trên căn bản một số tín điều mà các tín hữu Kitô Giáo phải tin, và đức tin này là tuyệt đối, bất khả tranh cãi, bất khả luận bàn. Vì thế muốn được giải thoát, tín hữu Kitô Giáo phải tin vào nhiều tín điều được ghi trong Kinh Tin Kính của các Tông đồ (Apostle’s Creed).  Chúa Giê-xu là nền tảng, là Tác giả và là Đấng duy nhất có quyền ban cho sự Cứu Rỗi (Rôma 3:24, 25; 5:21; Công Vụ 4:12; Hêbơrơ 12:2). Những ai không tin nhận Chúa Giê-xu sẽ không được tha thứ tội lỗi và sẽ chịu phạt nơi hoả ngục.

Đối với Phật Giáo, đạo Phật cho rằng cuộc đời này là giả tạm và chúng sinh cứ phải sống trong đau khổ vì lòng tham dục vô bờ bến, khiến con người tự mình trói buộc với những xung đột và khổ đau do không bao giờ thoả mãn, nên phải luân hồi triền miên trong vòng sinh tử.  Do đó nếu muốn, con người có thểtự mình giải thoát khỏi khổ đau, sinh tử luân hồi bằng các nỗ lực tu tập bản thân: làm lành, tránh ác và tự thanh tịnh hoá tâm ý.Bốn chân lý nền tảng của Phật giáo (Tứ Diệu Đế) cho rằng mọi khổ đau của chúng sinh đều có một hay nhiều nguyên nhân gây nên, chúng có thể bị giải trừ và có con đường để giải trừ khổ đau đó. Con đường đó chính là con đường giải thoát, là Bát Chánh Đạo trong giáo lý căn bản của nhà Phật. Giáo lý này được qui thành ba môn học: Giới, Định và Tuệ. Thực hành Giới và Định là đưa tới trí Tuệ, là giải thoát khỏi sự mê muội, lòng ích kỷ và khổ đau, là đạt tới cảnh giới Niết Bàn.

Đó là nét đại cương sự khác biệt giữa giải thoát trong Phật Giáo và trong Kitô Giáo. Cái căn bản khác biệt này là, một bên là tha lựctức nhờ sự cứu rỗi, bên kia là tự lực, tự mình thắp đưốc lên mà đi.  Với Phật Giáo, triết lý của đạo này là một triết lý sống, bởi vì nó là một chân lý giải thoát mà chỉ có ai thực hành nó mới đạt được nó, hiểu được nó trọn vẹn, người Phật tử phải tự mình tu tập để tiến tới giải thoát.  Chính Đức Phật dạy, “Không ai có thể cứu vớt chúng ta bằng chính bản thân chúng ta”.  Đức Phật chỉ là người dẫn đường. Ngài chỉ dạy cho chúng ta con đường tạo ra nguyên nhân và hậu quả. Số phận của chúng ta nằm trong tay chúng ta, không phải trong tay của Trời/Thượng Đế cũng không phải trong tay của Đức Phật. Với Kitô Giáo, vì là một tôn giáo cứu rỗi, con người chỉ cần đặt tất cả vào một niềm tin duy nhất ở một đấng siêu nhiên để mong cầu được giải thoát cho mình: “Thiên Chúa quá thương yêu thế gian đến nỗi ban con duy nhất (sic) của Ngài, để những ai tin vào Người sẽ không bị luận phạt, nhưng được sống đời đời.”(Crossing The Threshold of Hope, trang 76),

Điểm khác biệt thứ ba giữa hai đạo là thuyết Sáng Tạo:

Kitô giáo tin có một Thiên Chúa duy nhất, và là Đấng Tạo Hóa toàn năng, đã dựng nên và điều khiển toàn thể vũ trụ hữu hình và vô hình.  Cuốn Genesis (Sách Sáng Thế), một trong những kinh Thánh Cựu Ước viết rằng Thiên Chúa tạo ra vũ trụ và muôn vật và loài người trong 7 ngày.  Vì thế tín hữu Ki Tô giáo tin rằng mọi thứ trên đời đều có một nguyên nhân, từ đó, cứ truy tầm lên mãi sẽ phải có một nguyên nhân đầu tiên, và Chúa Trời của họ chính là nguyên nhân đầu tiên đó.

Đối với Phật Giáo, tất cả mọi sự mọi vật đều do nhân duyên hòa hợp mà hiển hiện, biến đổi vô thường. Thế giới này, về bản chất, chỉ là một dòng biến ảo vô thường, không do một Đấng toàn năng nào sáng tạo. Sở dĩ vũ trụ vạn vật biến hóa vô thường chính là do vạn vật trong vũ trụ chịu sự chi phối của luật nhân quả. Cái nhân nhờ có duyên mà trở thành quả, quả lại là nhân mới, nhờ có duyên trợ giúp mà trở thành quả mới… Cứ như vậy, vạn vật trong thế giới cứ sinh hóa biến hiện không ngừng theo quá trình thành, trụ, hoại, không.

Điểm khác biệt thứ tư giữa hai đạo là vị sáng lập ra tôn giáo.

Đối với Kitô Giáo, Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa toàn năng, đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài.

Đối với Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca là một nhân vật lịch sử có thật, có một tiểu sử rõ ràng được cả thế giới công nhận. Ngài đã thực sự sống trên thế giới này, Ngài không tự xưng mình hay các đệ tử của Ngài tôn xưng Ngài là đấng toàn năng, đấng tạo hóa hay là Thượng Đế v.v.  Ngài là người đã giác ngộ hoàn toàn và triệt để (toàn giác), là vị Đạo sư đã tự mình tìm ra được con đường giải thoát ngang qua kinh nghiệm bản thân, không có ai truyền dạy cho Ngài, không có ai ban phép cho Ngài, không phải do thần khởi, cũng không phải là hiện thân hay hóa thân của một đấng thần linh nào. Ngài là một người như mọi người khác, nhưng chính nhờ nỗ lực tu tập cá nhân, Ngài đã tìm ra được con đường giải thoát.  Sau khi giác ngộ, Ngài đã giảng dạy giáo pháp cho mọi người, nếu ai có nhân duyên thực hành giáo pháp, kể từ vua quan cho đến thứ dân, kẻ khốn cùng đều được giác ngộ như Ngài.  Cho nên Ngài đã nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành.”  Ngài là người hướng đạo, chỉ dẫn đường lối cho những ai muốn tu tập, Ngài không thể tu tập thay cho chúng sinh mà con người phải tự mình tu tập mới giải thoát được khỏi khổ đau phiền não do tham sân si trói buộc, mới ra khỏi sinh tử luân hồi được.  Cho nên Ngài đã nói: “Các người hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”.  Ngài khuyên hãy nên nương tựa vào chính mình và đi theo con đường giải thoát bằng nỗ lực của chính bản thân mình.

Nói tóm lại, điểm then chốt trong việc phân biệt giữa Phật giáo với Kitô Giáo nói riêng, các truyền thống tín ngưỡng lớn khác trên thế giới nói chung là vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo? Đối với Phật giáo, tất cả mọi sự mọi vật đều do nhân duyên hòa hợp (duyên sinh), do đó không hề có một Đấng Sáng Tạo. Ngoài ra, với Kitô Giáo, Thiên Chúa chính là Chân Lý, là hơi thở, là con đường giải thoát, bất cứ ai đến với Ngài, tin nơi Ngài sẽ được cứu rỗi. Với Phật Giáo, Đức Phật Thích Ca là bậc Đạo Sư đã tìm ra con đường giải thoát, hướng dẫn những ai muốn giải thoát khỏi đau khổ trầm luân, hãy đi theo con đường mà Ngài đã kinh qua. Ngài chỉ là người dẫn đường, còn người đi theo phải tự mình làm chủ, tự mình tu tập để đi đến giải thoát chứ không nương nhờ ở bất cứ đấng Thần quyền nào để được giải thoát.

Tâm Diệu

[01] Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa cũng như hàng ngàn xác tín và giáo phái khác nhau. Trải qua hai thiên niên kỷ, Kitô giáo tự hình thành nên ba nhánh chính: Công giáo RomaChính Thống giáo Đông phương và Kháng Cách (Protestantism). Tính chung, đây là tôn giáo lớn nhất thế giới với hơn 2,1 tỉ tín hữu (chiếm khoảng 34% dân số thế giới). (Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

[02] Kinh Tin Kính các Tông Đồ, cũng gọi là Biểu Tín các Tông Đồ, là kinh Tin Kính xưa nhất, có từ thế kỷ thứ II. Bản này tổng hợp các công thức đã có trước đó. Từ thế kỷ thứ VI, bản này có hình thức như ngày nay. Đây là bản tuyên xưng những tín điều chính yếu nhất khi chịu phép Rửa.

[3] Kinh Kalama (trong Kinh Tăng Chi Bộ III.65)

http://thuvienhoasen.org/D_1-2_2-69_4-11426_5-50_6-1_17-78_14-1_15-1/kinh-kalama-anh-viet-thanissaro-bhikkhu-thich-minh-chau.html

[4] Theo định nghĩa trong tự điển thì Faith hay Đức Tin là “sự tin chắc vào một cái gì đó mà không chứng minh được cái đó có thực”(Firm belief  in something for which there is no proof.)   Định nghĩa của Reason hay Lý Trí trong tự điển là “khả năng có những tư tưởng hợp lý, suy lý, hoặc phân biệt” (The capacity of rational thought, inference, or discrimination) hay “suy xét đúng, phán đoán hợp lý” (good judgment, sound sense).   Theo những định nghĩa trên thì hiển nhiên là Đức Tin Ki-Tô Giáo và Lý Trí của Phật Giáo là hai từ có nghĩa loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), có cái này thì không có cái kia.  Thật vậy, khi chúng ta dùng lý trí để xác định và chấp nhận một điều gì thì chúng ta không cần đến đức tin, và khi chúng ta tin vào điều gì mà không cần biết, không cần hiểu, thì lý trí trở nên thừa thãi.

Hãy thận trọng bảo vệ người thân của mình

Những sự việc khủng khiếp xảy ra gần đây trong ngành y đã làm cho nhiều người phải bàng hoàng kinh hãi. Chưa bao giờ người ta có thể tưởng tượng được rằng những hành vi xem thường tính mạng con người lại có thể xảy ra nơi chính những người được xem như mang sứ mệnh cao cả là bảo vệ sự sống. Phương châm “lương y như từ mẫu” giờ đây đã trở nên gần như mang ý nghĩa mỉa mai hơn là sự ca ngợi, tôn kính.

Thế nhưng, ít ai biết được rằng sự suy thoái hiện nay của một số người mặc áo choàng trắng – hẳn nhiên không phải là tất cả – không chỉ thể hiện ở sự lạnh lùng để vuột đi bao cơ hội cứu sống mạng người, mà đáng sợ hơn nữa là đã có những thầy thuốc dám làm cả việc kinh doanh lợi nhuận bằng chính sức khỏe, tính mạng của bệnh nhân. Đối với họ, dường như chỉ đồng tiền họ kiếm được là có giá trị, còn mọi thứ khác, kể cả những di hại về sau cho hàng ngàn bệnh nhân đều là không đáng kể!

Một số bạn đọc có thể không tin điều này, nhưng hãy khoan phản bác, vì có những thông tin hết sức cụ thể khiến chúng ta dù không muốn tin sự thật đau lòng này cũng không thể được.

Hãy nêu một trường hợp cụ thể ở đây, đó là Phòng khám chuyên khoa nhi của Giáo sư Bác sĩ Tạ Thị Ánh Hoa – số 223 đường Điện Biên Phủ, Phường 6, Quận 3, TP HCM. Tuy nói là chuyên khoa nhi, vì bà Giáo sư Tiến sĩ này vốn trước là Chủ nhiệm Bộ môn Nhi của Đại học Y dược TP HCM từ năm 1978 đến năm 1998, nhưng phòng khám này tiếp nhận 100% bệnh nhân đa khoa, đủ loại, đủ mọi lứa tuổi.

Điều đặc biệt ở đây là hầu như tất cả bệnh nhân đến khám đều chỉ được kê toa phần lớn với một loại thuốc duy nhất là Predsolut – dạng viên nén nhỏ, rất dễ uống và thường mỗi ngày cũng không phải uống nhiều lắm, chỉ từ 3 đến 5 viên, nhưng thường một toa bác sĩ cho sẽ uống liên tục trong từ 1 tháng rưỡi đến 2 tháng, và tái khám sẽ được uống tiếp khoảng 1, 2 toa như vậy nữa.

Rất nhiều bệnh nhân cho biết là kết quả điều trị rất thần hiệu. Hầu hết đều ăn ngủ được, tăng cân nhanh, các chứng đau nhức nếu có trước đó đều giảm cấp kỳ, và vì thế họ hồ hởi ca ngợi là đã gặp được bác sĩ rất giỏi, không dùng nhiều thuốc mà vẫn trị được bệnh thật nhanh chóng, hiệu quả. Từ đó, họ vui vẻ giới thiệu cùng nhiều người quen của mình, và tiếng lành đồn xa, người ta lũ lượt tìm đến nhờ bác sĩ chữa trị. Có những bệnh nhân ở tận vùng cao như Kon Tum, Daklak hay vùng xa như Kiên Giang, Đồng Tháp thậm chí còn rủ nhau bao xe đến khám đồng loạt.

Nhưng nếu như vị Giáo sư Tiến sĩ Bác sĩ với kinh nghiệm nhiều năm của mình đã thực sự nghiên cứu sử dụng được một loại thuốc trị “bách bệnh” như thế thì quả thật phước cho bá tánh biết bao! Vấn đề cần đặt ra ở đây là: Loại thuốc gì mà có tác dụng chữa trị thần hiệu như thế?

Thật ra, Predsolut chính là một tên thuốc khác thuộc nhóm corticoid cũng như Prednisolon và nhiều loại thuốc kháng viêm khác. Thuốc này được xếp vào loại thuốc độc bảng B và được khuyến cáo phải hết sức thận trọng chỉ dùng theo toa bác sĩ. Đây là loại thuốc chỉ dùng với mục đích điều trị trong trường hợp không thể tránh được, và phải sử dụng với liều thấp nhất, trong thời gian ngắn nhất, bởi các tác dụng phụ của nó vô cùng đáng sợ, bao gồm việc sưng phù, loãng xương, mục xương, loét bao tử, teo cơ, yếu cơ… và hàng loạt biến chứng khác như tăng huyết áp, choáng váng, chóng mặt…

Vậy tại sao một thầy thuốc có học vị cao (Giáo sư Tiến sĩ) như bà Hoa lại sử dụng một cách không hạn chế loại thuốc độc hại này với hầu như tất cả bệnh nhân? Đơn giản chỉ vì tâm lý người bệnh chỉ muốn hết bệnh, khi uống thuốc này gần như tất cả đều có phản ứng tích cực tức thì như giảm đau, ăn ngon, tăng cân… Và như vậy, họ yên tâm là mình đã gặp thầy gặp thuốc mà không hề biết rằng mình đang uống vào một loại thuốc có thể di hại lâu dài cho sức khỏe cơ thể. Như vậy, bà Hoa không cần phải chẩn đoán lôi thôi, không cần phải chuẩn bị nhiều loại thuốc cho nhiều loại bệnh (vì bà trực tiếp bán thuốc luôn, không cho toa bệnh nhân đi mua) mà phòng khám vẫn đảm bảo đông khách. Tác hại của thuốc là chuyện dài lâu, người bệnh không biết thì xem như không có, trong khi nhu cầu có bệnh nhân đến khám và bán được thuốc thì lúc nào bà cũng đạt được dễ dàng.

Hàng chục năm qua bà Hoa đã sống bằng thứ “công việc” gây hại cho hàng ngàn bệnh nhân như thế! Thật đáng sợ! Chúng tôi chia sẻ thông tin này để mong rằng có thể cảnh giác được mọi người thoát khỏi sự gây hại của người thầy thuốc thiếu lương tâm này.

Tuy nhiên, không phải tất cả bệnh nhân bị bà gây hại đều mù quáng không nhận biết. Một số người sau đó cũng biết được và có lên tiếng cảnh báo những người khác. Anh Trần Quang Phước chia sẻ trên trang danhbabacsi.com như sau:

Trần Quang Phước (2013-08-14 06:41:31)
Em tôi ở Dak Lak được một người quen giới thiệu xuống tp hcminh khám bệnh cho con ở phòng mạch bs Tạ Thị Ánh Hoa ở địa chỉ P6 quận 3 Điên Biên Phủ, khám xong bs Hoa kê cho hai loại thuốc Calci D và predsolut,thuốc nay ngay uong 3 vien buoi sang nhan voi 1 thang ( tổng 90v/ tháng)khi ve den cho toi o toi ra quay duoc hoi xem va tu van môt so bs chuyen khoa nhu moi nguoi bao day là thuoc prednisolon (predsolut), lúc này toi cung nhu em gai hoảng hốt , tai sao một gs , bs đạo đức nghe nghiep để ở đâu, vi loại thuoc này bản chât uong vao lên can nhung thuc chat len can gia tao, du nuoc, du muoi, nêu uong nhieu tac dung phu cua no rat nguy hiem ( cac ban tim hiem them loai thuoc này) Toi thiêt nghi so yte tphc nen vao cuoc xem xet phong mach bs Hoa. 

Một bạn khác, có lẽ ở Bạc Liêu, cho biết:

mybaclieu (2013-03-15 09:54:33)
bà hoa ơi bà thật là độc ác, toi khuyên bà nên chấm dứt hành động dã man đó, nếu không mai mốt bà chết sẽ không được nhăm mắt đâu con cháu bà sẽ gánh chịu hậu quả do bà gây ra , bà tưởng người bệnh nào cũng ngu hay bị mù internet hay sao mà bà gạt người ta, tui thấy con tui hơi gầy nên tui đưa đến chỗ bà khám mong bà lấy thuốc cho bé ăn được nhưng bà làm ra vẻ ta đay là hạy không cho người tui hỏi gì hết toàn là bà hỏi bệnh tự phán đoán là bệnh máy nóng giống mẹ hoặc cha, rồi bà nói gặp bà là may bà sẽ đưa thuốc cho uống nó giải nhiệt ra hết thì bé sẽ ăn được ngủ được và chắc chắn sẽ lên cân, nhưng thật tàn ác thay đứa nào suy dinh dưỡng bà cũng đều cho uống viên màu cam hết, thật khốn nạn thay khi tôi về nhà lên mạng tìm hiểu mới biết thuốc đó là loại thuốc kháng viêm (predsolut) thuốc này chỉ dành trị bệnh viêm khớp dạng thấp dùng trong trường hợp khẩn cấp không có cách nào lựa chọn nên phải sử dụng đỡ để điều trị bởi vì tác dụng phụ thật đáng sợ là thuốc này ai uống chắc chắn cũng sẽ mập do bà đánh dược tâm lý của nhiều bà mẹ thấy con mình uống thuốc mập lên là mừng rùi chớ các bà mẹ đâu có hiểu rằng thuốc này giữ nước nà na tri nên mới mập , chỉ là mập nước mà thôi, uống đi sẽ bị mục xương liền đó nếu dùng nhiều trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng nặng, gây rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến hệ thần kinh , tôi mong các bà mẹ và ông bố hãy sáng suốt nên đưa con mình đến những trung tâm khám dinh dưỡng của nhà nước để khám không nên tin vào những lời phù pháp của bà hoa này trước khi cho con mình dùng thuốc nên lên mạng kiểm tra kỹ hãy cho dùng nếu không sẽ gặp trường hợp đáng tiếc như tui.

Một chị tên Trần Thị Thảo cũng đã đưa con đến khám với bà Giáo sư Tiến sĩ Bác sĩ này và kể lại như sau:

tran thi thao (2013-11-08 03:45:55)
Moi roi toi cung cho con toi kham si hoa bam chuong hai lan la co mot ng mo cua ra hoi kham benh ha ? Roi keu vo trong ngoi cho, mot luc kha lau ba moi ra tui co noi beh cua con toi ma ba khog cho toi noi, ba noi dug cat loi ba de noi roi ba noi con toi mat ngu ,mat tham den rui ba cho thuoc uog la het ngay ba cho mot loai thuoc mau xanh va mot loai thuoc mau hong . Ve toi nha toi thay ban khoan nen di hoi thi dc biet day la loai thuoc khang viem rat hai cho xuong va he tieu hoa. Toi nghi moi nguoi nen can than voi nguoi bac si ghe ron nay.

Chiêu thức chung của bà Hoa là đối với bệnh nhân nào bà cũng “giải thích” rằng nguyên nhân bệnh là do “máu nóng”, “máu phong”, có thể do di truyền từ cha mẹ v.v… và bà sẽ cho thuốc “lọc máu” sẽ hết bệnh ngay.

Quả thật, người bệnh chỉ cần uống thuốc qua vài ngày đã thấy ngay sự “thần hiệu”, càng tin lời bà nói. Họ đâu biết rằng sức khỏe cũng như sinh mạng của họ đang bắt đầu bị tổn hại nghiêm trọng bởi loại thuốc độc bảng B này.

Theo lời một bác sĩ chân chính mà tôi có dịp quen biết, thì việc lạm dụng nhóm thuốc corticoid này hiện nay không phải ít. Hầu hết các loại thuốc nước Trung quốc mà người ta đồn nhau là uống vào ăn ngon ngủ ngon, tăng cân nhanh chóng, đều chính là corticoid. Người bệnh nếu vô phước sử dụng kéo dài thì hệ quả chắc chắn sẽ là sưng phù cả người, cổ bạnh như cổ trâu, loét dạ dày, loãng xương, mục xương, cao huyết áp, lao trở nặng… tai hại không thể nói hết.

Vì thế, chúng tôi phổ biến rộng thông tin này để cảnh giác tất cả mọi người, đừng vội tin vào các loại “thuốc thần” có nguồn gốc không rõ ràng, mà cũng đừng vội tin vào những người có vỏ ngoài “trí thức”, “lương y”, “học vị cao”… Những thứ đó họ chỉ may mắn bằng cách nào đó mà nhặt được thôi, chứ bản chất của họ đến chút lương tâm cuối cùng cũng đã đánh mất, nên chỉ cần một món lợi nhỏ cũng dám đánh đổi bằng một việc làm độc ác gây hại cho người khác. Đáng sợ thay!

Hãy share bài này lên Facebook hoặc blog của bạn, hoặc gửi link qua email đến cho tất cả người quen, bạn bè… Đó là bạn đã tích cực làm một việc thiện, vì sẽ cứu được rất nhiều người thoát khỏi sự gây hại của những kẻ vô đạo đức.

Người cha nấu cơm

Đã một giờ chiều rồi mà cha vẫn chưa mang cơm hộp đến.Nó làm chủ quản ở một nhà máy, áp lực công việc rất lớn. Buổi trưa nhà máy không phục vụ cơm, nó bảo cha mang cơm hộp cho. Một phần là tiết kiệm, một phần cơm cha nấu rất ngon.

Đồng nghiệp ăn thử cơm cha nấu, khen rất ngon. Nhưng nó cảm thấy trong lời khen ấy, có chút gì như khinh thường. Đúng vậy, khinh thường. Một người cha chỉ biết nấu cơm, chỉ biết chịu khổ chịu cực không biết cách hưởng thụ cuộc sống.

Phải chăng mẹ đã bỏ nó từ khi còn bé tí để theo một người đàn ông khác vì một người cha không có tiền đồ như vậy? Mẹ có thể tìm lại được cho mình một người chồng mới, nhưng nó thì không thể tìm lại cho mình một người cha mới được.

Hai giờ chiều. Cha vẫn chưa đến. Không biết làm gì mà cả ngày rảnh rỗi, chỉ là nấu ít cơm, gần đây nấu cũng linh tinh nữa. Hôm qua không có thịt, hôm kia 1 giờ chiều mới mang đến. Hôm kìa quên cả cho muối. Đợi suốt cả buổi chiều cha vẫn chưa đến. Bảy giờ tối, có cuộc điện thoại từ sở cảnh sát gọi tới: “Bố anh đang ở chỗ chúng tôi. Ông ấy lạc đường, mời anh đến đón về”

Lạc đường? Cha làm sao mà lạc đường được? Vừa đến sở cảnh sát, nhìn thấy cha vẫn cầm hộp cơm. Thấy nó đến, cha vội đưa tới cho nó: “Ăn cơm đi”.

Cha đang làm gì vậy? Một hộp cơm cầm đến tận bây giờ, lại cầm đến đây?

Nó đang muốn phát điên, thì người cảnh sát nói: “Có người phát hiện ông lão này mồ hôi nhễ nhại cứ đi đi lại lại, hỏi ông ấy đi đâu, ông ấy nói không nhớ, hỏi nhà ở đâu, tên gì, cũng không nhớ, thế là gọi điện cho chúng tôi, may mà chúng tôi đã tìm thấy danh thiếp của anh trên người ông cụ. Cha anh mắc chứng bệnh đãng trí tuổi già, phải trông coi ông cụ, đừng để ông ấy đi mất”.

Cha đã bị mắc bệnh đãng trí tuổi già?

Giờ nó mới biết, để đưa cơm hộp cho nó, cha đã đi suốt cả buổi chiều trên con đường đó. Cái bệnh đãng trí tuổi già đã làm cha quên mất mình cần đi đâu, nhà mình ở đâu, mình là ai. Nhưng vẫn đinh ninh nhớ đến con trai, nhớ phải mang cơm hộp đến cho con trai.

Cha bị đói suốt cả buổi chiều mà vẫn giữ nguyên hộp cơm. Hộp cơm đã nguội ngơ nguội ngắt, đưa ra trước mặt nó.

Một người đàn ông đã trưởng thành như nó, cuối cùng đã không kiềm chế được òa lên khóc.

http://rongmotamhon.net/mainpage/doc-sach-Bai-viet,-tieu-luan,-truyen-ngan-127-3201-online-2.html

Tủ sách Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn » Tháng bảy tu phước báo hiếu

Có một người rất giàu và cũng rất hà tiện keo kiệt không làm dang làm phước cho ai bao giờ. Một hôm có người ăn mày đến xin. Chẳng xin tiền hay xin gạo, xin món gì hết mà theo nằng nặc xin một nén vàng. Tay nhà giàu sai đầy tớ đuổi đi nhưng gả ăn mày không chịu đi mà cứ la lết trước cửa nhà lải nhải rất khó chịu… suốt ba năm trời. Tay nhà giàu nổi máu tò mò, dù sao nó cũng bỏ công nên chịu cho và sai tên đầy tớ theo dõi – gả ăn mày được nén vàng đi đâu và làm gì với nén vàng. Tên đầy tớ đi theo thấy tên ăn mày cầm nén vàng thảy lên thảy xuống nhảy nhót mừng rở. Lát sau đến bên gốc cây chắc là mệt nên nằm xuống ngủ tay cầm nén vàng để trên bụng. Đứa đầy tớ lén lấy lại nén vàng đem về trả cho chủ. Lát sau lão ăn mày thức dậy thấy mất của, xăm xăm trở lại xin nén khác. Người nhà giàu nói “tui mới cho đây làm gì hết mà còn đi xin nữa vậy cha” lão ăn mày nói “Tôi – vừa – nhắm – mắt, nó – liền – mất – đi, nên phải xin ông nén khác thôi”. Nghe nói ông nhà giàu dường như được soi sáng tấm lòng ngộ ra sự đời. Rõ ràng đời là ảo, con người ta hễ nhắm mắt rồi chẳng còn của cải sự nghiệp. Bắt đầu từ chỗ nhận thức của cải chỉ là ảo ảnh tiếp đến là suy nghĩ về cái chết mình để lại gì. Anh nhà giàu bỗng ngộ phát tâm đêm tài sản của cải ra làm phước bù cho bản tánh keo kiệt trước đây. Suy nghĩ lại, mới hiểu người ăn mày ấy là Bụt hiện ra. Chỉ có Bụt mới thay đổi được suy nghĩ của những người bảo thủ, trì trệ nhất. Anh nhà giàu đúng là có duyên gặp được Bụt. Vậy có phải làm phước còn bắt đầu từ chỗ ưng vô sở trụ…

Tủ sách Bài viết, tiểu luận, truyện ngắn » Tháng bảy tu phước báo hiếu.

Chỉ có một điều mà thôi

Một người bạn của tôi, có lần phải giải thích cho đứa con trai bốn tuổi của chị về bà bác đã nuôi nó từ khi mới sanh, sắp phải dọn đi nơi khác. Vì con trai chị rất quý mến bà bác, nên chị gắng giải thích cho nó hiểu rằng bà ta cũng thương nó lắm, nó có thể viết thư, gọi điện thoại hoặc ghé thăm bà, nhưng bà bác phải dọn đi xa, về sống chung với chị của bà. Thằng bé lắng nghe chăm chú, rồi bảo má nó: “Má ơi, má kể lại cho con nghe đi, nhưng mà với một kết cuộc khác kìa!”

Trong cuộc đời chúng ta, cũng có những lúc ta mơ ước rằng sẽ có những kết cuộc khác. Đó là những lúc ta mất một cái gì yêu dấu, ta bị xa cách người mình thương, sức khỏe ta suy nhược vì tuổi già, ta cảm thấy đau buồn và thất vọng, hoặc là cuộc sống cứ tuột xa dần tầm tay với. Chúng đều là những khía cạnh của dukkha, một trong những giáo lý căn bản của đạo Phật. Dukkha có nghĩa là khổ, là bất toại nguyện, bất mãn, trống vắng, đổi thay.

Đức Phật dạy: “Ta chỉ dạy có một điều và duy chỉ có mỗi một điều mà thôi: khổ đau và sự chấm dứt của khổ đau.” Khổ, trong giáo lý đạo Phật, không nhất thiết phải là cái đau đớn của thân, mà chính thật là cái đau đớn của tâm, khi chúng ta cố bám giữ vào những thú vui tạm bợ, thoáng qua trong cuộc đời. Chúng là nguyên nhân của những sự bất toại nguyện và trống vắng trong ta.

Khi tôi mới đến Ấn Độ và nghe giảng giáo lý về khổ trong đạo Phật, tôi có cảm tưởng như mình được trao cho một món quà thật quý báu. Cuối cùng, tôi đã gặp một người dám nói thẳng ra sự thật về cuộc đời. Khổ đau có mặt! Mặc dù trong cuộc đời có những niềm hạnh phúc lớn, nhưng nó cũng có những khổ đau to tát nữa. Có những ngày vui sum họp mà cũng có những giọt nước mắt phân ly. Đời sống có sanh và cũng có tử. Tôi có cảm tưởng như mình được nghe sự thật ấy lần đầu tiên – một sự thật mà không một ai khác muốn đề cập đến.

Khi chúng ta cố đóng sầm lại cánh cửa sự thật này, chúng ta tạo nên khổ đau. Mà trong xã hội của ta cánh cửa này thường bao giờ cũng được đóng kín, vì chúng ta được dạy rằng khổ đau là rất xấu xa. Cũng có khi ta tự đóng cánh cửa sự thật ấy lại vì ta không dám nhìn vào khổ đau của chính mình, hoặc không muốn cho người khác thấy.

Sự chối bỏ khổ đau này xảy ra nhiều nhất trong đời sống gia đình. Đôi khi trong gia đình có một nỗi khổ lớn – bất hòa, bạo động, ghen tuông – và vì cố gắng che đậy không muốn con cái biết, nên một bức tường im lặng được dựng lên. Một sự im lặng của chối bỏ, của trốn tránh. Nếu ta phải đề cập đến nó, khổ đau ấy sẽ được gói ghém và tô điểm lại để ngụy trang thành một cái gì khác. Khi giải thích vấn đề khổ đau với trẻ con, chúng ta thường sử dụng những lời lẽ khéo léo và cẩn thận, nhưng thường khi thì chúng đã biết hết rồi. Vì không được người chung quanh xác nhận cảm xúc của mình, đứa trẻ cảm thấy bị mâu thuẫn – một sự xung đột giữa những gì nó nghe từ người lớn và những gì nó thật sự biết. Từ đó, chúng không còn biết tin vào mình nữa, chứ đừng nói gì vào cha mẹ. Và vì vậy, biết chấp nhận sự thật về khổ đau sẽ là một giải thoát rất lớn cho mọi người trong cuộc.

Nhưng đức Phật không phải chỉ có dạy về khổ đau, mà ngài còn dạy về sự chấm dứt khổ đau nữa. Một người bạn, khi nghe câu nói của đứa Phật rằng ngài chỉ dạy duy có một điều mà thôi, đã phê bình: “Khổ đau và sự chấm dứt khổ đau là hai việc chứ đâu phải một việc.” Nhìn từ một góc cạnh thì chúng rõ rệt là hai, ta hoặc là khổ đau hoặc là giải thoát. Ta có thể biết được sự khác biệt ấy trong thân mình, tim mình, tận xương tủy của mình. Nhưng khi ta nhìn sâu sắc vào giáo lý ấy, ta sẽ nhận thức được sự đồng nhất của chúng. Với bất cứ một kinh nghiệm nào, cho dù có là đau đớn, chúng ta cũng có thể tìm thấy được sự chấm dứt của khổ đau nằm ngay trong trái tim của nó.

Nhưng những khi chúng ta đối diện với khổ đau và không thể nào thay đổi “kết cuộc của câu chuyện”, thì làm sao khổ đau có thể chấm dứt được? Đây là một trong những tình cảnh khó khăn nhất mà ta có thể gặp phải trong cuộc đời. Chúng ta nên bắt đầu bằng cách đừng chối bỏ sự đau đớn, bằng cách thừa nhận sự có mặt của khổ đau. Điều ấy không có nghĩa là chúng ta phải biết an phận hay là lạnh lùng dửng dưng. Chúng ta hãy nhìn thẳng vào khổ đau để khám phá được khả năng bao dung của con tim. Nó có thể chứa đựng hết mọi khía cạnh của sự sống trọn vẹn trong ý thức mình. Chừng ấy ta sẽ hiểu, thật ra sự đau đớn tự nó không hề là tàn nhẫn và trái tự nhiên, mà chính là do cái cảm giác cô đơn trong nỗi đau của mình.

Khi cởi mở ra trọn vẹn hơn, ta sẽ tiếp xúc được với một chân lý vốn có của cuộc đời: khổ đau bao giờ cũng là một phần rất tự nhiên của sự sống. Cái biết ấy sẽ đem lại cho ta một sự toàn vẹn và an lạc, vì nó giải thoát ta ra khỏi những mệt mỏi của một thái độ giả trá và tự dối lừa. Đôi khi, nhờ chúng mà ta thấy được gốc rễ của khổ đau, và cũng như thấy được những hành động cần thiết để làm vơi nó bớt. Ví dụ như đứa con trai của chị bạn tôi, nó cũng bớt buồn lo hơn nhờ sự chăm sóc, thương yêu của mẹ nó. Và vì vậy, con đường chấm dứt khổ đau gồm có sự nhìn rõ nỗi đau của mình, và biết thay thế thái độ chối bỏ bằng chánh niệm và tâm từ.

Biết bao nhiêu lần khi tôi sống với ngài U Pandita, tôi đã than phiền: “Sự thực tập của con còn tệ lắm. Đầu gối con đau, lưng con mỏi, tâm con thì chu du đi khắp mọi nơi. Con ngồi yên không được.” Biết bao lần ngài đã im lặng ngồi chăm chú lắng nghe rồi giản dị trả lời: “Đó là dukkha, có phải không?” Lần nào tôi cũng ngồi đó trước mặt ông, chờ đợi một cái gì to tát lắm, hy vọng ông sẽ ban cho một phép lạ, một phương pháp nào đó sẽ khiến mọi khó khăn biến mất hết. Trong khi tôi vẫn ngồi chờ, với những nỗi hy vọng và lo sợ hiện rõ, ông chỉ lặp lại: “Đó là dukkha, có phải không?”

Mặc dù lúc đầu tôi rất thất vọng, nhưng sau này câu trả lời của ngài U Pandita đã giúp ích tôi rất nhiều. Không một việc gì tôi có thể làm hoặc thay đổi, lại có thể so sánh được với năng lực khai phóng của sự thật lòng chấp nhận rằng: “Đây là khổ đau.”

Thật ra, lời của ngài U Pandita giúp tôi hiểu rằng những khó khăn của tôi không có gì là cá nhân hết, nó là một vấn đề chung của cuộc đời. Chúng ta tiếp xúc với khổ đau, không phải để bị nó tràn ngập, hoặc bị lôi cuốn đi, nhưng là để ta cảm thấy cởi mở hơn, để tiếp nhận sự thật và tất cả mọi người khác.

Có những lúc ta không thể làm gì được để thay đổi “kết cuộc của câu chuyện” và khiến cho khổ đau đi nơi khác. Nhưng cái kết cuộc ấy sẽ thay đổi khi chúng ta dám nhìn sự thật trước mặt với chánh niệm và tâm từ. Và đó là giáo lý duy nhất của đức Phật: sự thật về khổ đau cũng chính là con đường để chấm dứt khổ đau.

Đài Truyền hình An Viên hoàn tất bộ phim Người dịch kinh Phật

Khởi quay từ ngày 4/6/2013, đoàn làm phim của Đài Truyền hình An Viên (AVG) vừa hoàn tất bộ phim Người dịch kinh Phật với nội dung chính giới thiệu về công trình Việt dịch bộ kinh Đại Bát Niết-bàn đã xuất bản vào năm 2009.

Thông qua việc tìm hiểu và thu thập nhiều thông tin về bản Việt dịch của bộ Kinh Phật đồ sộ này, đến cuối năm 2012 Đài Truyền hình An Viên đã có kế hoạch thực hiện một bộ phim để giới thiệu bản Việt dịch mới nhất của Kinh này đến với khán thính giả của Đài. Sau khi tiếp xúc và tìm hiểu trực tiếp với dịch giả, AVG đã xin phép được khởi quay bộ phim với tựa đề Người dịch kinh Phật. Đọc tiếp

Vì sao tôi viết blog?

Bước vào độ tuổi “tri thiên mệnh”, hay nói theo ngôn ngữ bây giờ là U50, có lẽ chẳng mấy ai còn ham thích những chuyện tán gẫu qua mạng hay viết lách linh tinh chỉ để giải buồn… Thế nhưng, tôi vẫn cảm thấy cần phải mở ra blog này – và một số blog khác – để làm nơi chia sẻ tâm tình cùng bạn đọc.
Chỉ riêng trong vài năm gần đây, số độc giả vào xem trang Rộng mở tâm hồn đã tăng vọt, từ vài trăm người mỗi ngày đã lên đến hàng ngàn người… Theo báo cáo của Google Analytics thì 75% trong số đó là khách mới ghé thăm và 25% là khách thường xuyên. Như vậy, ít nhất mỗi tháng cũng có đến hơn vài chục ngàn độc giả xem trang này, tạo thành một cộng đồng không nhỏ những người đồng cảm với nội dung đăng tải trên Rộng mở tâm hồn.
Có thể nói, những ai đã ghé thăm và đọc sách hoặc tra cứu tư liệu trên Rộng mở tâm hồn đều là những người ít nhiều có mối quan tâm đến cuộc sống tinh thần. Vì thế, chúng ta hoàn toàn có thể xem nhau như những người quen biết. Từ thực tế đó, tôi nghĩ là cần tạo ra một điều kiện để chia sẻ tâm tình giữa những người đã có duyên may gặp gỡ và quen biết nhau qua Rộng mở tâm hồn.
Những blog được tôi mở ra đây – bao gồm các phiên bản Google, Yahoo!, WordPress, MySpace và Go.vn – đều nhằm mục đích đó. Ở đây, tôi sẽ chia sẻ với độc giả những tâm tình thân mật, những điều mà tôi chưa hoặc sẽ không đăng tải trên Rộng mở tâm hồn, chẳng hạn như những cảm xúc bất chợt, những buồn vui trong cuộc sống đời thường, những bài viết chưa chính thức xuất bản, hay thỉnh thoảng là một vài mẩu chuyện vui vui đã từng xảy đến với tôi trong cuộc đời cầm bút… Đọc tiếp

Cuộc sống chính là hiện tại

Nếu có một lúc nào đó bạn thử dành đôi chút thời gian để nhìn lại những suy nghĩ của chính mình trong một ngày, bạn sẽ thấy ra được nhiều điều rất thú vị.

Hầu hết những gì bạn suy nghĩ dường như đều hướng về tương lai hoặc quay lại quá khứ. Có rất ít những suy nghĩ được dành cho hiện tại, trừ khi bạn là người đã có thực hành nếp sống tỉnh thức.

Tư tưởng của chúng ta có thói quen bị cuốn hút trở về những gì đã trôi qua mà chúng ta cho là tốt đẹp hơn hiện nay; hoặc là mơ mộng vươn đến tương lai với những viễn ảnh mà ta hy vọng là sẽ vượt xa hiện tại. Những tư tưởng này làm cho ta thấy thích thú, và nhất là nó giúp ta tránh né không phải đối mặt với những khó khăn đang xảy ra trong hiện tại. Vì thế, chúng ta không lấy làm lạ khi mỗi lần gặp nhiều khó khăn thì dường như người ta lại càng hay nghĩ nhiều về quá khứ.

Những điều chúng ta mang nặng trong lòng nhiều nhất thường cũng là những điều đã qua. Có những việc trôi qua hàng đôi ba mươi năm, nhưng mỗi khi gặp điều gì nhắc đến, ta lại nhớ về nó như mới xảy ra hôm nào. Đọc tiếp