Phật sự chào đón năm mới 2015: Thành lập Câu Lạc Bộ Phát triển Truyền thông Phật giáo

http://rongmotamhon.net/mainpage/index_0_1.html

THÔNG BÁO THÀNH LẬP
CÂU LẠC BỘ
PHÁT TRIỂN TRUYỀN THÔNG PHẬT GIÁO

Kính gửi: Quý vị Webmaster các trang web Phật giáo

Kính thưa Quý vị,
Câu Lạc Bộ Phát triển Truyền thông Phật giáoThời gian qua, trong khi xây dựng và phát triển trang Đại Tạng Kinh Tiếng Việt Online, chúng tôi đã có điều kiện tiếp cận với khá nhiều các trang web Phật giáo trên khắp thế giới. Bằng vào công nghệ API với sự hỗ trợ của các tổ chức thống kê mạng nổi tiếng hiện nay như Alexa, Compete, SimilarWeb… chúng tôi đã thu thập được nhiều dữ liệu cơ bản về sự phát triển chung của các website Phật giáo khắp nơi. Hiện nay chúng tôi đã thu thập được dữ liệu tổng quát về 516 website Phật giáo, trong đó có 436 website Tiếng Việt và 80 website bằng các ngoại ngữ Hán, Anh…
Sau khi phân tích dữ liệu trong 3 tháng qua, chúng tôi nhận ra một điều là các website Phật giáo hiện nay nói chung có lượng truy cập khá thấp, do đó khi xếp hạng toàn cầu có vị trí rất khiêm tốn. Trong tổng số 433 website tiếng Việt, chỉ có khoảng 30 website được xếp trên mốc 1.000.000 trên toàn cầu, và nếu lấy mốc xếp hạng 500.000 trên toàn cầu thì chỉ có khoảng 10 website Phật giáo được lọt vào mà thôi. Hơn 70 website Phật giáo chưa có đủ dữ liệu để được xếp hạng toàn cầu, và những website có thứ hạng thấp nhất nằm dưới mốc 28.000.000. Website chính thức của GHPGVN (trong nước) chỉ xếp ở thứ hạng thấp hơn 3.750.000, trong khi website của GHPGVN Thống Nhất (ngoài nước) xếp ở thứ hạng đến 16.797.343 (theo dữ liệu vào ngày soạn thông báo này), cho thấy có lượng truy cập vô cùng thấp.
Cũng dựa vào kết quả phân tích dữ liệu, chúng tôi nhận ra những kết quả vừa nói trên phần lớn không phải do chất lượng thông tin của các website Phật giáo còn kém. Tuy cũng có một số website có thông tin còn nghèo nàn, nhưng hầu hết các website đều có sự đầu tư xây dựng khá nghiêm túc. Chẳng hạn, trang Hoa Vô Ưu (hoavouu.com) có nội dung rất phong phú nhưng hiện chỉ xếp hạng thấp hơn 1.006.818, trang Hoa Linh Thoại (hoalinhthoai.com) có nhích hơn một chút nhưng cũng ở mức 975.155…

Qua nghiên cứu thực tế, chúng tôi nhận định một số nguyên nhân như sau:

  • Phần lớn các website Phật giáo đều không được áp dụng đúng mức các kỹ thuật SEO (Search Engine Optimization), do đó nội dung được đăng tải rất khó xuất hiện, hoặc xuất hiện rất ít trong các kết quả tìm kiếm của người dùng Internet thông qua Google, Bing… Như vậy, mỗi website đều chỉ có một số lượng độc giả quen thuộc nhất định mà không thể mở rộng giới thiệu nội dung đến với người dùng khắp nơi trên thế giới.
  • Một số website có cấu trúc không hợp lý, có thể do người quản trị hoặc phụ trách kỹ thuật không đủ trình độ chuyên môn trong thiết kế. Tuy vẫn có một số website thiết kế rất tốt, nhưng đa số hoặc sử dụng giao diện sẵn có của WordPress, Joomla, Drupal… và không có sự điều chỉnh thích hợp. Nguyên nhân này dẫn đến việc người sử dụng khó tìm kiếm được nội dung muốn xem, và khi sử dụng chức năng tìm kiếm thì thường được trả về quá nhiều kết quả không hoàn toàn đúng như ý muốn. Khó sử dụng và không tìm được thông tin mong muốn là những nguyên nhân rất dễ khiến cho người xem bỏ đi tìm một website khác.
  • Một số lớn website có tốc độ tải trang không ổn định hoặc quá chậm, thông thường là do sử dụng các dịch vụ share host với gói hosting không thích hợp (quá nhỏ) với nhu cầu của website.

Những nguyên nhân nêu trên đều có thể dễ dàng khắc phục nếu người quản trị website có được một số kiến thức cơ bản và kinh nghiệm. Đó là lý do khiến chúng tôi nghĩ đến việc thành lập một Câu Lạc Bộ nhằm mục đích hỗ trợ cho sự phát triển của truyền thông Phật giáo, mà đặc biệt là phát triển việc truyền bá Giáo pháp qua phương tiện các website. Chúng tôi thiết nghĩ như sau:

  • Nếu có sự liên kết chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau giữa hơn 500 website Phật giáo, hoặc chí ít cũng là giữa 436 website tiếng Việt, chắc chắn chúng ta sẽ có thêm sức mạnh liên kết, tạo thành một mạng lưới truyền thông có sức mạnh nương tựa, giúp đỡ, quảng bá cho nhau, giúp người dùng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với những thông tin được đăng tải.
  • Để phát triển tốt, vấn đề tự lực vẫn vô cùng quan trọng, vì thế các webmaster cần có sự trang bị một số kiến thức căn bản. Việc liên kết cùng nhau sẽ giúp mọi người đều có điều kiện học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với nhau trong lãnh vực này, giúp nhau cùng phát triển tốt hơn. Hơn nữa, các webmaster cũng rất cần có một nơi để dễ dàng tìm được các ý kiến tư vấn, hướng dẫn khi gặp phải bất ổn, khó khăn trong công việc.
  • Hiện nay các kỹ thuật công nghệ đã phát triển rất nhanh chóng nhưng phần lớn các website được thành lập những năm trước đây vẫn còn giữ nguyên các kỹ thuật công nghệ cũ. Nếu có sự liên kết chia sẻ kinh nghiệm thực tế, tất cả các website Phật giáo chúng ta sẽ dễ dàng hơn rất nhiều trong việc tiếp cận công nghệ mới để chuyển đổi cấu trúc hoặc hạ tầng kỹ thuật của website nhằm phục vụ ngày càng tốt hơn, hiệu quả hơn.

Xuất phát từ những suy nghĩ đó, với sự hỗ trợ của một số cư sĩ Phật tử là chuyên gia trong ngành, chúng tôi quyết định thành lập Câu Lạc Bộ Phát triển Truyền thông Phật giáo với tôn chỉ hoạt động và mục đích như sau:

I. MỤC ĐÍCH

    • Câu Lạc Bộ được thành lập nhằm mục đích chính là giúp cho tất cả các thành viên quan tâm đến sự phát triển của truyền thông Phật giáo có điều kiện học hỏi tri thức, chia sẻ kinh nghiệm và tìm kiếm sự tư vấn các giải pháp phát triển cho website của mình.
    • Mục đích xa hơn là nhằm thúc đẩy sự phát triển của truyền thông Phật giáo nói chung, đưa Giáo pháp, Kinh điển, sách Phật học đến với người dùng Internet một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.

II. TÔN CHỈ

    • Câu Lạc Bộ hoạt động theo tôn chỉ phụng sự cộng đồng, hoàn toàn phi lợi nhuận. Thành viên tham gia không phải nộp bất kỳ một khoản lệ phí hay đóng góp nào.
    • Câu Lạc Bộ hoạt động trên tinh thần tự lực cánh sinh, dựa vào tri thức và năng lực của chính các thành viên. Các thành viên tham gia sẽ chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm cho nhau, giúp đỡ nhau khi cần thiết và hỗ trợ nhau khi có khó khăn. Tuy nhiên, khi cần tư vấn các giải pháp quan trọng, thành viên sẽ nhận được sự hỗ trợ tự nguyện từ một số chuyên gia trong ngành.
    • Câu Lạc Bộ chỉ hoạt động giới hạn trong phạm vi mục đích đề ra, không mở rộng sang bất kỳ lãnh vực nào khác.

III. PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG

    • Thành viên tham gia hoàn toàn tự nguyện, không đòi hỏi phải có bất kỳ điều kiện nào. Tất cả các webmaster đang điều hành website đều có thể tham gia, và ngay cả những ai hiện chưa điều hành website nhưng có quan tâm đến lãnh vực này cũng có thể tham gia.
    • Câu Lạc Bộ có trang web chính thức đặt tại địa chỉ: http://rongmotamhon.net/mainpage/index_0_1.html là nơi đăng tải mọi thông tin liên quan và là nơi để các thành viên chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau. Các thông tin chia sẻ gửi về: admin@rongmotamhon.net sẽ được Ban Điều Hành đăng tải lên website.
    • Thành viên đăng ký tham gia qua email gửi về admin@rongmotamhon.net với các thông tin liên quan bao gồm: tên họ, chức danh, website (nếu có), địa chỉ liên lạc.
    • Ban Điều Hành CLB sẽ giữ vai trò chính trong việc điều phối và cung cấp thông tin đến các thành viên. Bước đầu sẽ có các bài viết hướng dẫn những kiến thức căn bản nhất về hoạt động của website, về những yêu cầu cơ bản trong kỹ thuật SEO, những kinh nghiệm thực tiễn trong việc thiết lập và quản trị server… Thành viên khi cần thiết có thể gửi thẳng yêu cầu cần tìm hiểu về Ban Điều Hành và sẽ nhận được sự hỗ trợ từ các thành viên khác hoặc các chuyên gia trong ngành nếu cần.
    • Thành viên CLB được quyền sử dụng các dữ liệu thống kê đã được thu thập và đăng tải để theo dõi sự phát triển của website mình phụ trách. Thành viên cũng sẽ được hướng dẫn cách tự mình thu thập dữ liệu, cách kết nối website với các mạng xã hội như Facebook, Google Plus, Twitter, Linkedin v.v… Trong trường hợp đặc biệt, thành viên có thể yêu cầu được giúp đỡ trực tiếp từ Ban Điều Hành.

Chúng tôi rất mong sẽ nhận được sự ủng hộ và tham gia từ các vị webmaster các website Phật giáo. Với sự đoàn kết góp sức cùng nhau, chắc chắn chúng ta sẽ tạo ra được những thay đổi, chuyển biến tích cực cho truyền thông Phật giáo, tạo điều kiện để đưa những lời dạy của Đức Thế Tôn đến với tất cả mọi người.

Trân trọng,
BĐH Câu Lạc Bộ
Phát triển Truyền thông Phật giáo

http://rongmotamhon.net/mainpage/index_0_1.html

Nguồn chân lẽ thật – Sách mới của tác giả Nguyên Minh

Lời nói đầu

Duyên khởi của tập sách này có phần nào đó hơi khác thường và đối với tôi dường như lại còn là một điều hết sức thú vị. Trong một thời gian khá lâu, với nhiều công việc dở dang nên tôi gần như không đặt bút viết thêm được quyển sách nào trong Tủ sách Rộng mở tâm hồn, cho dù tôi đã chuẩn bị khá nhiều ý tưởng để chia sẻ cùng bạn đọc qua một số chủ đề đã được dự tính từ nhiều năm trước. Tuy nhiên, thời gian và công việc thật ra cũng chỉ là một yếu tố, vẫn còn một yếu tố khác quan trọng hơn nữa là tôi thực sự chưa tìm được nguồn hứng khởi để đưa những ý tưởng sẵn có của mình lên trang giấy.
Thế rồi, thật tình cờ tôi nhận được một bài thơ rất đặc biệt, từ một người quen gửi đến. Tôi gọi là một “bài thơ” vì với tôi nó gần như đã gợi lên được trọn vẹn cả một đề tài mà từ lâu tôi hằng ấp ủ, nhưng thật ra có lẽ với đa số người đọc khác thì không hẳn đã xem đó là một “bài thơ”, bởi nó chỉ gồm hai câu ngắn ngủi được đặt trang trọng bên dưới một chủ đề – rất có thể chính là toàn bộ ý tưởng mà người viết muốn diễn đạt.
Chủ đề được nêu lên là: “Chân-lý đi về đâu” và hai câu lục bát ngắn ngủi ấy như sau:
Chân-lý đi, chân-lý về,
Chẳng còn, hay có; cũng “huề” một “tâm”.
Tôi đã cố ý ghi chép lại chính xác như những gì tôi được đọc thấy, bởi mỗi chi tiết trong hai câu thơ này đều mang những ý nghĩa nhất định đối với tôi.
Trước hết, quý độc giả có thể đã dễ dàng nhận ra những chữ chân lý đều được viết có gạch nối. Đây là dấu ấn cho thấy người viết thuộc một thế hệ khá lớn tuổi, ít nhất cũng đã theo học bậc trung học từ trước năm 1975, bởi hiện nay không ai còn giữ cách viết này. Những dấu gạch nối thời ấy làm nhiệm vụ liên kết một cụm từ ngữ khi người viết muốn người đọc phải tiếp nhận nguyên vẹn mà không tách rời chúng ra.
Điểm đặc biệt thứ hai là cách dùng chữ huề, một dạng trước đây của chữ hòa. Ngày nay ít thấy ai dùng chữ huề nữa, mặc dù theo quy luật chung của ngôn ngữ, nó vẫn còn được lưu dấu trong những cụm từ cố định như huề vốn, huề cả làng v.v… Nhưng khi dùng riêng rẽ, ta chỉ nói xử hòa chứ không nói xử huề, cũng như nói hòa thuận chứ không ai nói huề thuận v.v… Ngoài ra, tôi cũng chú ý đến cách dùng các dấu ngoặc kép trong câu với mục đích nhấn mạnh vào hai chữ huề và tâm.
Đối với tôi, các đặc điểm nhận dạng qua hình thức như vừa nêu là những chỉ dấu để tôi tiếp cận ý nghĩa hai câu thơ theo một hướng đặc biệt, trong chừng mực nào đó có vẻ gần giống như là một cuộc đối thoại trực giao giữa hai thế hệ – một ngày xưa cổ kính thâm trầm với nội tâm sâu lắng và một hiện tại năng động tư duy với ngập tràn tri thức.
Chân lý vốn là một khái niệm hết sức mơ hồ, chưa từng và cũng sẽ không bao giờ có thể được cụ thể hóa thành một khuôn mẫu duy nhất. Mặc dù không ít người vẫn tin chắc rằng “chân lý chỉ có một”, nhưng họ thường quên rằng điều đó chỉ đúng khi xét trong trường hợp của riêng một người hay một nhóm người hoàn toàn có cùng quan điểm. Và vì thế, cho dù mỗi người hay một nhóm người có thể đạt đến chân lý “duy nhất” nào đó, thì thực tế vẫn luôn tồn tại đó đây vô số những “chân lý” khác đối với những người khác hay nhóm khác.
Tính chất mơ hồ của khái niệm này dường như lại càng được đẩy xa hơn nữa khi người viết cố ý đặt chúng kèm theo những động từ đi, về:
Chân-lý đi, chân-lý về … …
Chân lý ở đây được mô tả đang dịch chuyển theo dòng biến động của những tâm thức chưa từng lắng đọng, đang ngày đêm quay quắt với những đúng-sai, phải-trái, được-thua, hơn-thiệt… Và trong cuộc xoay vần không đích đến như thế, những chuyến đi về tất yếu cũng không bao giờ tìm được một điểm dừng cố định. Đây chính là bi kịch muôn đời của những con người khát khao chân lý nhưng không đủ phước duyên để gặp được một bậc minh sư soi đường chỉ lối.
Về điểm này, chắc hẳn sẽ có không ít độc giả khởi lên sự hoài nghi: “Lẽ nào mỗi chúng ta không thể tự mình tìm ra con đường đi đến chân lý tuyệt đối hay sao?”
Vâng, tất nhiên đó là điều hoàn toàn có khả năng xảy ra, nhưng chỉ là trong suy diễn và lý thuyết mà thôi. Hai mươi lăm thế kỷ đã trôi qua kể từ khi bậc Đại Giác Thế Tôn ra đời và chỉ bày con đường đi đến tận nguồn chân lẽ thật, trong thực tế có vô số người đã nối tiếp nhau đạt được sự an lạc giải thoát nhờ đi theo con đường do Ngài mở lối, nhưng chưa một người nào nhận rằng chính mình đã tự khai sáng con đường ấy hoặc mở ra được một hướng đi nào khác hơn những gì đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã từng thuyết giảng.
Tri thức giới hạn của hầu hết chúng ta dường như luôn vấp phải bức tường bế tắc khi nỗ lực soi rọi đến tận cùng ý nghĩa hiện hữu của đời sống. Và trong nỗ lực vô vọng để vượt qua sự bế tắc ấy, có những điều hôm nay ta tưởng chừng là chân lý tuyệt đối thì có thể ngày mai đã trở thành một mớ tri thức hỗn độn vô nghĩa; có những thành tựu tưởng chừng như đang làm thay đổi cả cuộc đời ta, thì có thể trong phút chốc bỗng đẩy ta vào chỗ hoang mang lạc lõng… Tất cả những thực tiễn ấy, những ai dấn thân vào con đường tìm kiếm chân lý đều rất có thể đã từng trải qua. Và chính vì vậy mà giá trị khai mở của những lời dạy sáng suốt từ một bậc thầy chân chánh là vô cùng quý giá.
Không riêng gì mỗi chúng ta hôm nay, nhiều thế hệ nhân loại nối tiếp nhau trong lịch sử cũng đã từng loanh quanh trên những lối mòn đi tìm chân lý mà thật ra không đưa người ta đến bất cứ nơi nào cả. Nhân danh chân lý, người ta đã từng chém giết, tàn hại lẫn nhau, nhưng thực tế lại cho thấy cả kẻ thắng lẫn người thua đều chẳng ai có được trong tay mình chân lý!
Cũng nhân danh chân lý, có những người, những nhóm người đã từng hy sinh tuổi thanh xuân cho đến cả cuộc đời mình để lao vào cuộc kiếm tìm không mệt mỏi, nhưng rồi khi đến cuối đời mới đau đớn nhận ra mình thậm chí còn chưa biết được chân lý là gì!
Và không chỉ trong những vấn đề lớn lao trọng đại, chúng ta còn luôn gặp phải những biện luận, tranh chấp về cái gọi là “chân lý” dưới mọi hình thức ngay trong cuộc sống hằng ngày. Không ai có thể dễ dàng chấp nhận mình là người đã “sai lầm”, dù chỉ là trong ý tưởng. Mỗi người đều cố gắng hết sức để giành về mình phần “lẽ phải”, phần “đúng đắn” nhất hay “chân lý” trong phạm vi đang có sự tranh cãi. Chúng ta tranh giành “chân lý” với mọi người quanh ta, từ thuở ấu thơ cho đến tuổi già, rồi một hôm nào đó bỗng băn khoăn nhìn lại và chợt nhận ra mình vẫn chưa thực sự hiểu được thế nào là “chân lý”!
Hiểu một cách đơn thuần về mặt ngôn ngữ thì chân có nghĩa là chân thật, không sai lầm, không giả dối, và lý có nghĩa là đúng đắn, thích hợp với sự suy luận, nhận hiểu theo tư duy của lý trí. Như vậy, chân lý là lý lẽ đúng thật, không sai lầm và hoàn toàn phù hợp với khả năng suy luận nhận hiểu của chúng ta.
Thế nhưng, “đúng thật” không phải là một chuẩn mực bất biến, và khả năng suy luận nhận hiểu của mỗi chúng ta cũng không hoàn toàn giống nhau. Ngay cả khi chỉ xét riêng khả năng suy luận nhận hiểu của chính bản thân mình, ta cũng có thể dễ dàng nhận ra rằng điều đó luôn biến đổi theo thời gian, gần như phụ thuộc hoàn toàn vào sự tích lũy kinh nghiệm cũng như tri thức của chúng ta trong mỗi giai đoạn của cuộc sống. Và chính vì vậy mà hiện tượng “sáng đúng, chiều sai, đến mai lại đúng” nếu có xảy ra cũng không có gì là khó hiểu.
Một khi chúng ta vận dụng những tri thức, kinh nghiệm không thường hằng và thường xuyên biến đổi như thế làm công cụ, phương tiện để truy tìm một chân lý thường hằng bất biến thì tính chất bất khả thi của vấn đề dường như đã tự nó bộc lộ ngay từ khởi điểm. Mâu thuẫn ở đây là, chúng ta thường không muốn thừa nhận sự bất khả thi đó, vì cho rằng nó đồng nghĩa với việc ta nhận thua “đối phương”, những người đang đi theo một hướng khác với ta.
Ở hai đầu chiến tuyến, mỗi người lính đều tự nhủ rằng họ đang bảo vệ, đang theo đuổi “chân lý” của mình, và tin chắc rằng những kẻ đối nghịch với họ là sai lầm, là cần phải đánh bại… Sự thật bi đát này đã tồn tại gần như trong suốt dòng lịch sử nhân loại. Trừ ra một số ít người tỉnh táo nhận biết, còn lại phần đông hầu như đều chấp nhận sự thật này mà không thấy được tính chất vô lý ngay từ mặt nhận thức của mình.
Đạo Phật bác bỏ hoàn toàn cuộc chạy đua tranh giành cái gọi là “chân lý” như trên bằng một ý niệm rất rõ ràng xuất phát từ trí tuệ quán chiếu sâu vào thực tánh hay bản chất của tất cả sự việc:
是非無實相
究竟總成空 。
Thị phi vô thật tướng,
Cứu cánh tổng thành không.
Đúng, sai vốn không tướng thật,
Xét cùng hết thảy đều không.
Tính chất đúng-sai của mọi lý lẽ, lập luận đều không phải là một giá trị tuyệt đối bất biến. Chúng được hình thành và phụ thuộc, biến đổi tùy theo bối cảnh nhân duyên tương quan. Những gì được xem là đúng của hôm nay chưa hẳn đã đúng trong tương lai, cũng như những gì từng được xem là đúng trong quá khứ thì hiện tại có thể không còn đúng nữa. Những gì được xem là đúng đắn ở địa phương này lại có thể là sai lầm ở một địa phương khác. Vì thế, nếu chúng ta cố chấp vào một giá trị đúng sai nào đó thì việc xảy ra mâu thuẫn xung đột với người khác sẽ là điều không thể tránh khỏi.
Và những nhận thức khác biệt qua thời gian hay không gian thật ra đều xuất phát từ một cội nguồn duy nhất là tâm thức con người. Một tâm thức sáng suốt cho chúng ta những nhận thức đúng đắn về bản chất sự vật, nhưng một tâm thức mê muội, nhiều che chướng sẽ dẫn đến nhận thức mơ hồ hoặc sai lệch về bản chất sự vật, và do đó cũng khiến ta có những hành vi ứng xử sai lệch, gây tác hại cho chính bản thân cũng như mọi người quanh ta.
Tính chất quyết định của tâm thức được mô tả trong câu thơ thứ hai, cũng là vế cuối của bài thơ trên:
Chẳng còn, hay có; cũng “huề” một “tâm”.
Tồn tại hay không tồn tại – To be or not to be… Vấn đề lại quay về nguyên ủy của nó, chính là tâm thức. Trong bản thể sáng suốt tự nhiên của tâm thức ấy không có những cặp phạm trù tương đối như sinh-diệt, dơ-sạch, thêm-bớt, và do đó tất nhiên cũng không có cả những khái niệm như đúng-sai, phải-trái, hơn-thua… Như trong Tâm kinh Bát-nhã đã dạy: “…bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm…”
Tất cả đều hòa nhập và bình đẳng như nhau trong dòng tâm thức, vì xét cho cùng thì chúng đều có cùng một bản thể rốt ráo siêu việt mọi khái niệm tương đối.
Tuy nhiên, việc phủ nhận tính chất duy nhất và bất biến của bất kỳ chân lý nào trong phạm trù tư duy khái niệm của chúng ta hoàn toàn không có nghĩa là mọi khái niệm đều vô nghĩa và chúng ta có thể chấp nhận một kiểu nhận thức mơ hồ không xác định, hoặc nói nôm na là một kiểu quan niệm “ba phải”, thế nào cũng đúng, cũng được. Bởi cho dù khi “xét đến cùng” thì “tất cả đều rỗng không” trong ý nghĩa chúng không tự có một tự thể độc lập thường hằng, nhưng trong phạm trù của thực tại tương đối mà ta đang hiện hữu thì vẫn rất cần phải có một sự phân biệt thật sáng suốt, rõ ràng những tính chất khác biệt của mọi sự vật.
Như vậy, để có thể mang lại ý nghĩa tốt đẹp và tích cực cho cuộc sống của chính mình thì việc chọn lựa những phương cách tư duy, nói năng hoặc ứng xử sao cho thích hợp với hoàn cảnh, mang lại lợi lạc cho bản thân ta cũng như mọi người quanh ta vẫn là một yêu cầu khó khăn mà tất cả chúng ta đều phải cố gắng thực hiện tốt. Chỉ khi hiểu được điều này ta mới có thể sống tốt trong cuộc đời mà vẫn không bị lôi cuốn vào vòng xoáy “thị phi vô thật tướng” của những cuộc tranh chấp vô lý không đáng có.
Bởi vì mọi tư duy, lập luận hay nhận thức của chúng ta đều xuất phát từ “nguồn tâm”, nên tâm thức luôn quyết định tất cả những gì chúng ta suy nghĩ, nói năng hay hành động. Một tâm thức trong sáng, hiền thiện sẽ lưu xuất những tư tưởng, lời nói và việc làm mang lại lợi ích cho bản thân và người khác, kèm theo đó là một cuộc sống an vui, hạnh phúc đến từ nội tâm. Ngược lại, một tâm thức si ám, xấu ác sẽ luôn thúc đẩy những tư tưởng, lời nói và việc làm gây tổn hại đến chính mình và người khác, kèm theo đó là một cuộc sống bất an, khổ đau luôn dằn vặt trong tâm hồn.
Như một nguồn nước chảy ra muôn dòng nước, nếu nguồn nước ấy bị nhiễm bẩn, mọi dòng nước cũng đều ô nhiễm không dùng được. Nếu nguồn nước được giữ cho trong sạch, thanh khiết, thì mọi dòng nước từ đó chảy ra đều sẽ là những dòng nước trong trẻo, mát lành. Cũng vậy, việc gìn giữ một tâm thức trong sáng, hiền thiện chính là cội nguồn chân thật để từ đó khởi sinh hết thảy mọi việc lành, và ngược lại thì tâm ô nhiễm sẽ là cội nguồn khởi sinh muôn việc xấu ác.
Xuất phát từ những nhận xét như trên, có thể thấy rằng mọi tư duy lập luận trong phạm vi khái niệm của chúng ta đều là tương đối, không hề tồn tại bất kỳ một giá trị tuyệt đối duy nhất bất biến nào. Vì thế, khi ta có sự tu dưỡng để vun bồi gìn giữ một cội nguồn bản tâm chân thật thì mọi lý lẽ cũng theo đó mà trở nên thuận hợp, đúng thật. Ngược lại, khi xuất phát từ một tâm thức xấu ác, nhiễm ô thì mọi lý lẽ dù có văn hoa uyên bác đến đâu chắc chắn cũng chỉ là những lập luận ngụy biện, được dùng để lấp liếm che đậy cho những ý đồ vốn khởi sinh từ tham lam, sân hận và si mê.
“Nguồn chân lẽ thật” được viết ra từ tâm nguyện chia sẻ một vài kinh nghiệm nhận thức nhỏ nhoi trong việc áp dụng những lời dạy của đức Phật vào việc tu tâm dưỡng tánh, và xem đó như là cội nguồn chân thật nhất để khởi sinh mọi thiện hạnh. Trong ý nghĩa đó, chúng ta sẽ không đi sâu vào sự biện giải đúng-sai, phải-trái… mà sẽ soi rọi vào tận cội nguồn khởi sinh của tất cả mọi quan điểm, nhận thức bằng ánh sáng của những lời Phật dạy để thấy được những gì bản thân ta cần phải nhận hiểu và thực hành. Từ đó, ta sẽ nhận ra một sự thật rất thường gặp là, ngay cả khi ta vận dụng những lời Phật dạy nhưng với một tâm thức không chân chánh, không trong sáng, thì chính những lời dạy đó sẽ rất dễ có nguy cơ bị nhận hiểu và vận dụng hoàn toàn sai lệch, trở thành lý lẽ ngụy biện cho những hành vi, tư tưởng và lời nói sai lầm của chúng ta.
“Nguồn chân lẽ thật” sẽ bàn đến một số những nhận thức cơ bản và quen thuộc nhất với mọi người Phật tử, nhưng cũng chính là những vấn đề thường dễ bị nhận hiểu sai lệch nhất. Hy vọng những chia sẻ chân thật này sẽ có thể mang lại được ít nhiều lợi ích cho những ai đang nỗ lực hoàn thiện bản thân mình.
Trân trọng!
Nguyên Minh

* Độc giả tại TP HCM có thể tìm mua tại Nhà sách Quang Bình – số 416 đường Nguyễn Thị Minh Khai. Chú ý: Sách đang in nên hiện nay chưa thể mua được.

Phật tại tâm

http://rongmotamhon.net/mainpage/doc-sach-Phu-tro-nguoi-lam-chung-48-1307-online-2.html

“Vì tâm là nhân của trí huệ bát-nhã, đừng tìm tánh Phật ở đâu khác.”

Nhờ hiểu được tâm là đạt được trí Bát-nhã, nên quán chiếu viên mãn nhất là [biết được] không cần tìm Phật tính ở một nơi nào khác.

Phát biểu thứ năm này vừa là câu kết luận, vừa là tổng hợp của bản kinh này. Thật thế, qua năm điều mà Ngài xiển dương, đức Phật đã vạch ra cả một con đường.

Ta bắt đầu bằng cách quán sát cẩn thận những tai hại của thế giới Ta-bà và phát khởi lên tâm xả chấp, và khi nhận thức rõ những khổ đau đang chờ đợi mình nếu cứ tái sinh mãi trong cõi Ta-bà, ta không thể cam lòng được nữa mà chỉ còn mỗi một ý muốn là xuất ly. Hiểu rõ cõi Ta-bà đối với ta tai hại ra sao rồi, cần phải phát triển ý nghĩ đó hướng đến người khác. Khi ta thấy người khác cũng phải chịu cùng những khổ đau như mình, ta cảm nhận rằng đối với người khác cũng như đối với ta, điều ấy không thể chấp nhận được! Thế thì, sau khi khởi tâm xả chấp trước những khổ đau của chính mình, cần phải phát triển tâm từ bi, tâm đại bi, và cảm thấy bất bình trước sự khổ đau của người khác. Do sự thúc đẩy bởi tâm đại bi, ta bèn quyết định ra tay hành động để cứu người khác thoát mọi khổ đau, điều này dẫn đến việc phát tâm Bồ-đề, vì càng suy nghĩ ta càng thấy phải đi đến kết luận rằng để giúp đỡ người khác một cách hữu hiệu và cứu họ thoát mọi khổ đau một cách chắc chắn, biện pháp duy nhất là chính mình đạt đến quả vị Phật càng nhanh càng tốt.

Tóm lại, ta bắt đầu từ tâm xả chấp để khởi tâm đại bi, dẫn đến việc phát tâm Bồ-đề. Tâm cuối cùng này quan trọng nhất. Nhưng vì mục đích là đạt đến Phật quả nên tâm này vẫn chưa đủ: phải kết hợp tâm này với trí huệ tánh Không, nghĩa là trí huệ thấy biết sự vắng mặt của tự tánh nơi mọi sự hữu.

Hiểu được các pháp đều là Không trong một khoảng thời gian đặc biệt nào đó vẫn chưa đủ. Một khi đã bước lên đến trình độ hiểu biết ấy rồi, ta phải tiếp tục kiên trì và tu tập cho tâm thức quen thuộc với quan điểm mới mẻ này. Sự phối hợp giữa tâm Bồ-đề và trí tuệ trực ngộ tánh Không sẽ đối trị và cuối cùng phá tan tất cả các màn chướng vốn che phủ tâm của phàm phu. Các màn chướng này, quý vị đã ghi nhận, vốn chỉ là từ bên ngoài đến, nghĩa là do trần cảnh tạo ra. Khi tâm đã được gột sạch [những bụi trần này] cho đến các tầng lớp sâu thẳm nhất, tức là vi tế nhất của hai loại che chướng, thì người này trở thành một vị Phật. Nói cách khác, người thành Phật là người mà tâm đã vĩnh viễn loại bỏ hai loại che chướng trên tất cả bình diện, kể cả các bình diện vi tế nhất của chúng.

Từ những điều này ta rút ra được rằng, cuối cùng, cái [sẵn có] trong ta mà một ngày nào đó sẽ thành Phật chính là dòng tương tục, là tâm của chúng ta. Chúng ta khám phá Phật ở đâu, nếu không phải là ở trong tâm ta? Chính tâm ta phải được chuyển hóa thành Phật. Đức Phật cũng nói đúng như thế ở đây: “Không cần phải đi tìm Phật – tính Phật – ở ngoài quý vị. Phải tìm ở bên trong tự thân mình. Hãy làm cho tính Phật này hiển lộ trong mình. Hãy làm cho tâm quý vị thăng tiến cho đến khi thành Phật.”

Vì đề tài này khá quan trọng, hãy trở lại nhìn dưới một góc độ hơi khác một chút. Nếu chúng ta cẩn thận đọc lại điểm thứ năm trong lời dạy của đức Phật, ta sẽ hiểu rằng trên phương diện chân đế không hề có sự khác biệt giữa bản thể tâm của một đức Phật và bản thể tâm của chúng ta, những kẻ phàm phu. Ngược lại, trên phương diện tục đế, sự khác biệt rất rõ rệt. Tâm của đức Phật không hề bị nhiễm ô bởi bất cứ sự che chướng ở bất cứ trạng huống nào, thí dụ như phiền não hay gì khác, trong khi đó tâm chúng sinh thì luôn bị các che chướng bao phủ. Phải thấy rõ rằng, chỉ có bản chất tương đối của tâm mới bị tạm thời che phủ, còn bản chất tuyệt đối của nó thì không. Bản chất này bình đẳng giữa tất cả hữu tình, Phật và chúng sinh không khác.

Phân tích như thế đem lại gì cho ta? Vì còn là phàm phu, chúng ta nên phối hợp phương tiện thiện xảo và trí tuệ tánh Không hay vô ngã. Phương tiện thiện xảo là khởi tâm Bồ-đề trên căn bản đại từ và đại bi, cả hai [tâm này] được gọi là “đại” vì chúng bao hàm tất cả chúng sinh đau khổ không chừa một ai. Tư duy về tâm Bồ-đề phối hợp với trí tuệ trực ngộ vô ngã có công năng làm cho chúng ta thành tựu được “phúc trí nhị nghiêm”: vừa phát triển trí tuệ, chúng ta vừa tích lũy được rất nhiều phước đức.

Con đường này dẫn ta đến đâu? Khi đạt tới mức độ viên mãn, trí tuệ của một cá nhân vốn từ trước đến nay chỉ là một phàm phu sẽ biến chuyển thành “Trí pháp thân” (Jđna-dharmakya) của một đức Phật. Trong tiến trình tu tập trí tuệ, một cá nhân sẽ lìa bỏ các lậu hoặc và các màn che chướng, các thứ này sẽ trở thành “Đoạn đức” của vị Phật mới thành.

Thế thì, theo Phật giáo, nếu muốn thăng tiến và đạt quả vị Phật, không thể hướng ra bên ngoài mà tìm được kết quả. Thật ra, đó là những điều mà ta không thể tìm kiếm ở bên ngoài. Ta muốn thành Phật? Nếu muốn, thì phải hạ thủ công phu tu trì. Sự tu trì này gồm có những pháp môn tịnh hóa và sự tích lũy công đức. Nói giản dị hơn, phải xả bỏ những tập khí xấu, những lậu hoặc đã tích chứa từ vô thủy. Cùng lúc phải tu phước và tu huệ. “Phước huệ song tu” cũng có nghĩa là vun bồi nhiều đức hạnh, trong đó có trí huệ. Khi phối hợp sự tịnh hóa với phước-trí thì một người có thể chuyển hóa địa vị phàm phu của mình để chứng được quả giác ngộ của một vị Phật. Hãy ghi nhận rằng chính đức hạnh của người này đã biến chuyển thành đức hạnh của một vị Phật. Chính tâm người này đã biến thành Nhất thiết trí của Phật. Vì thế, tìm cầu sự giác ngộ ở bên ngoài là một ảo tưởng.

Một sự thăng tiến như thế có thể thành tựu được bởi vì, ít nhất là theo Phật giáo, tất cả chúng hữu tình đều hàm chứa “Như Lai tạng” (Tathgata-garbha). Từ ngữ tiếng Phạn này ta còn có thể dịch là “tánh Phật”, “hạt giống Phật”.

Như Lai tạng là tiềm năng thành Phật. Tiềm năng này sẵn có trong tất cả hữu tình, loài người hay các loài khác. Như Lai tạng này là gì? Các triết gia Phật giáo đề nghị nhiều định nghĩa, trong đó có ba định nghĩa chính. Nhưng đây là một đề tài tự nó riêng biệt và khá phức tạp. Ở đây cần thiết nhất là chúng ta hiểu rằng đức Phật khuyên hãy xem kỹ hơn những khả năng ẩn tàng trong mỗi chúng ta. Nói rằng trong mỗi chúng ta đều hàm chứa Như Lai tạng, có nghĩa là ai cũng có thể thăng tiến và đạt đến trạng thái viên mãn mà Phật giáo gọi là “tánh Phật”. Khi hiểu và tin chắc điều này rồi, chúng ta chỉ cần hạ thủ công phu và áp dụng các phương tiện cần thiết để đạt đến mục đích.

Ánh sáng trong đường hầm

http://rongmotamhon.net/mainpage/doc-sach-Tri-tue-hoan-hy-354-3456-online-2.html

Nhiều năm về trước, tôi từng bị nhốt chặt trong một cái máy fMRI, một loại máy quét não bộ mà đối với tôi trông giống như chiếc quan tài hình trụ màu trắng. Tôi nằm trên một mặt bàn phẳng dùng trong thí nghiệm, tựa như một cái lưỡi le ra rồi rút vào trong một hình trụ mà người ta bảo tôi là có chứa thiết bị quét não. Tay, chân và đầu tôi bị ràng rịt chặt chẽ đến nỗi gần như không thể động đậy, và một dụng cụ chắn răng được nhét vào miệng để giữ yên quai hàm. Toàn bộ quá trình chuẩn bị ấy, như bị giữ chặt trên bàn v.v… đều khá thú vị, vì những kỹ thuật viên đã lịch sự giải thích về những gì họ làm và nhằm mục đích gì. Ngay cả việc bị đưa vào trong máy cũng tạo cho tôi một cảm giác có phần nào êm ả, cho dầu tôi có thể hiểu được là với một trí tưởng tượng phong phú, người ta hẳn phải cảm thấy như đang bị nuốt chửng.
Nhưng rồi nhiệt độ bên trong máy nhanh chóng tăng lên. Vì bị giữ chặt toàn thân nên tôi không thể chùi đi những giọt mồ hôi đang chảy ròng xuống trên mặt. Việc gãi một chỗ ngứa thôi cũng đã là chuyện không tưởng – và quái lạ thay, khi hoàn toàn không có cách gì để gãi thì sao thân thể lại ngứa ngáy đến thế! Chính trong cái máy quét lại phát ra tiếng kêu vo vo thật lớn như tiếng còi báo động.
Trong những điều kiện như thế, tôi ngờ rằng chẳng mấy ai muốn ở trong máy quét fMRI dù chỉ khoảng một giờ. Thế nhưng tôi và một số vị tăng sĩ khác đã tình nguyện làm việc ấy. Chúng tôi cả thảy có 15 người,(1) cùng đồng ý trải qua kinh nghiệm không thoải mái ấy như một phần trong cuộc nghiên cứu khoa học thần kinh mà đứng đầu là các Giáo sư Antoine Lutz và Richard Davidson, tại Phòng nghiên cứu Waisman, nghiên cứu về hình ảnh và ứng xử của não bộ (Waisman Laboratory for Brain Imaging and Behavior), thuộc trường Đại học Wisconsin ở Madison. Mục đích của cuộc nghiên cứu là khảo sát ảnh hưởng của việc hành trì thiền quán trong thời gian dài đối với bộ não. “Thời gian dài” ở đây có nghĩa là tổng cộng đã có khoảng từ 10.000 đến 50.000 giờ hành trì thiền quán. Trong số người tình nguyện, những người trẻ tuổi đã có khoảng 15 năm hành thiền, còn một số các vị lớn tuổi hơn thì đã tu tập thiền định lên đến 40 năm.
Theo tôi hiểu thì máy quét fMRI có khác biệt với loại máy theo chuẩn MRI [trước đây], vốn sử dụng từ trường mạnh mẽ kết hợp sóng vô tuyến, cùng với sự hỗ trợ của máy vi tính để tạo ra một hình ảnh tĩnh rất chi tiết của các cơ quan bên trong và cấu trúc thân thể. Tuy máy quét fMRI cũng sử dụng kỹ thuật từ trường và sóng vô tuyến như vậy, nhưng có thể cung cấp bản ghi những thay đổi trong các hoạt động hoặc chức năng của não bộ qua từng thời điểm. Sự khác nhau giữa kết quả của máy quét MRI và máy fMRI cũng tương tự như khác biệt giữa một tấm hình và một cuộn phim video. Bằng cách sử dụng kỹ thuật fMRI, các nhà khoa học thần kinh có thể quan sát những thay đổi trong nhiều vùng khác nhau của bộ não khi đối tượng nghiên cứu được yêu cầu thực hiện những thao tác nhất định, chẳng hạn như lắng nghe âm thanh, xem video hay thực hiện một hoạt động tâm thần nào đó. Một khi những tín hiệu từ máy quét được xử lý bởi máy vi tính, kết quả cuối cùng hơi giống như một đoạn phim quay cảnh não bộ đang làm việc.
Thao tác chúng tôi được yêu cầu thực hiện là luân phiên thay đổi giữa việc thiền quán theo một số phương thức nhất định với việc buông thư tâm thức trong một trạng thái bình thường hoặc trung dung: cứ 3 phút thiền quán rồi theo sau là 3 phút buông thư. Trong thời gian thiền quán, chúng tôi phải nghe một số âm thanh mà theo hầu hết các chuẩn mực đều có thể được mô tả là rất khó chịu, chẳng hạn như tiếng kêu thét của phụ nữ hay tiếng khóc của một em bé sơ sinh. Một trong những mục tiêu của thử nghiệm này là để xác định xem những âm thanh khó chịu ấy có ảnh hưởng gì đến não bộ của các thiền giả lão luyện. Liệu các vị có bị gián đoạn sự định tâm hay không? Liệu những vùng não liên quan đến sự bực bội và giận dữ có bị kích hoạt không? Hoặc cũng có thể sẽ không có một tác động nào cả.
Trong thực tế, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy là khi những âm thanh gây khó chịu này được phát ra thì hoạt động trong các vùng não có tương quan với tình mẫu tử, sự cảm thông và những trạng thái tâm thức tốt đẹp khác lại thực sự gia tăng.(2) Sự khó chịu đã làm kích hoạt một trạng thái an định, trong sáng và bi mẫn thâm sâu.
Sự khám phá này đã giúp nắm hiểu được tinh yếu của một trong những lợi ích chính mà pháp môn thiền Phật giáo mang lại: đó là khả năng vận dụng những hoàn cảnh khó khăn – và những phiền não thường đi kèm với chúng – như một cơ hội để khai mở sức mạnh và tiềm năng của tâm thức con người.
Nhiều người chưa từng khám phá được khả năng chuyển hóa hay tầm mức to lớn của sự tự tại nội tâm do khả năng ấy mang lại. Chỉ riêng việc đối mặt với những thách thức nội tâm và ngoại cảnh đến với họ mỗi ngày cũng đã khiến họ chẳng còn được mấy thời gian cho việc quán chiếu tự tâm – để làm điều có thể gọi là “một bước lùi về tinh thần”, nhằm xem xét lại những phản ứng theo thói quen của mình đối với các sự kiện hằng ngày và cân nhắc xem có thể có những lựa chọn khác hay không. Trải qua thời gian, một cảm giác xơ cứng về tính tất yếu [của những sự việc đó] sẽ hình thành: “Tôi là như vậy đó, cuộc đời này là như vậy đó, tôi không thể làm gì để thay đổi những điều ấy.” Trong hầu hết các trường hợp, người ta thậm chí không hề ý thức được là họ nhận biết về chính mình và thế giới chung quanh theo cung cách đó. Khuynh hướng vô vọng căn bản này sẽ lắng xuống không khác gì một lớp bùn dưới đáy sông, luôn tồn tại nhưng không nhìn thấy được.
Sự vô vọng căn bản tác động đến con người, bất chấp mọi hoàn cảnh. Ở Nepal, nơi tôi lớn lên, những tiện nghi vật chất là điều vô cùng hiếm hoi. Chúng tôi không có điện, điện thoại, lò sưởi hay máy điều hòa không khí, và cũng không có cả nước máy. Mỗi ngày đều phải có người đi bộ thật xa xuống đồi, đến một con sông và múc nước sông vào một cái vại, khuân vại này trở lên đồi, đổ nước vào một thùng lớn rồi hì hục quay xuống để múc đầy vại nước lần nữa. Phải lên xuống 10 lần như thế mới có đủ nước dùng chỉ trong một ngày. Rất nhiều người không kiếm đủ thức ăn để nuôi gia đình. Mặc dầu người châu Á theo truyền thống thường e dè không muốn bộc lộ cảm xúc, nhưng sự lo âu và tuyệt vọng vẫn lộ rõ trên nét mặt và trong cách đi đứng giữa cuộc đấu tranh sinh tồn mỗi ngày của họ.
Trong chuyến đi giảng pháp lần đầu tiên ở phương Tây vào năm 1988, tôi đã ngây thơ tin rằng với tất cả những tiện nghi vật chất sẵn có, người ta hẳn phải tự tin và hài lòng hơn rất nhiều với cuộc sống của họ. Nhưng thay vì như thế, tôi lại phát hiện rằng [nơi đây người ta cũng] có nhiều khổ đau không kém gì ở quê tôi, tuy là dưới những dạng thức khác và nảy sinh từ những nguyên nhân khác. Đối với tôi thì đó là một hiện tượng rất kỳ lạ. Tôi hỏi những người đón tiếp tôi: “Tại sao lại như vậy? Ở đây mọi thứ đều quá tuyệt. Quý vị có nhà đẹp, xe đẹp, việc làm tốt. Tại sao vẫn có nhiều người khổ đau như thế?” Tôi không dám nói chắc là chỉ đơn giản vì người phương Tây cởi mở hơn trong việc nói ra những vấn đề bất ổn của họ, hay vì những người tôi hỏi chỉ muốn tỏ ra lịch sự, nhưng chẳng bao lâu tôi đã nhận được nhiều câu trả lời hơn cả sự mong đợi.
Trong một thời gian ngắn, tôi biết được rằng những vấn đề như kẹt xe, đường xá đông đúc, những hạn chót [gấp gáp] phải hoàn tất công việc, những hóa đơn tính tiền, những hàng dài chờ đợi ở ngân hàng, bưu điện, phi trường hay tiệm bán thực phẩm… đều là những nguyên nhân phổ biến tạo ra căng thẳng, bực bội, bất an và giận dữ. Những rắc rối trong quan hệ giao tiếp ở gia đình hay nơi làm việc là những nguyên nhân thường xuyên gây rối loạn cảm xúc. Cuộc sống của nhiều người quá bận rộn đến nỗi, cuối cùng thì, chỉ việc qua hết một ngày dài cũng đủ để họ phải ước ao sao cho cả thế giới này và hết thảy mọi người hãy biến mất đi trong chốc lát. Rồi một khi họ đã thực sự xoay xở để vượt qua được một ngày và bắt đầu nghỉ ngơi thư giãn thì cứ như là điện thoại sẽ réo vang hay con chó hàng xóm sẽ bắt đầu cao giọng sủa, và thế là chút cảm giác hài lòng mà họ vừa có được đã ngay lập tức tan theo mây khói.
Nghe họ giải thích như thế, tôi dần dần hiểu ra rằng những thời gian và nỗ lực mà người ta dành cho việc tích lũy và duy trì tài sản vật chất, hay “tài sản bên ngoài”, đã cho họ rất ít cơ hội để vun trồng và nuôi dưỡng những “tài sản bên trong” – tức là những phẩm hạnh như tâm từ ái, đức nhẫn nhục, hạnh bố thí và sự buông xả. Sự mất quân bình này đã khiến cho người ta đặc biệt dễ tổn thương khi phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng như ly hôn, bệnh nan y hoặc những khổ đau triền miên về mặt tâm lý hay thể chất. Trong thập niên vừa qua, khi đi thuyết giảng về thực hành thiền quán và giáo lý đạo Phật khắp nơi trên thế giới, tôi đã gặp những người hoàn toàn bất lực khi phải đối mặt với những thách thức mà cuộc sống mang đến. Một số người sau khi mất việc làm đã bị nung nấu bởi nỗi lo sợ đói khổ, sợ mất nhà cửa và sợ rằng mình sẽ không bao giờ có khả năng gượng dậy được nữa. Một số người khác phải vật lộn với chứng nghiện ngập hoặc với gánh nặng lo toan cho con cái, hay cho những thành viên khác trong gia đình đang chịu đựng những rối loạn nghiêm trọng về cảm xúc hay ứng xử. Và một số đông đáng ngạc nhiên biết bao người khác nữa hoàn toàn tê liệt vì [những hội chứng như] suy sụp, trầm cảm, tự căm ghét hay mặc cảm tự ti tàn khốc.
Rất nhiều trong số những người vừa nói trên đã từng thử áp dụng một số phương pháp để vượt qua những mô thức tâm lý bệnh hoạn hay tìm cách đối phó với những tình huống căng thẳng. Họ thấy đạo Phật hấp dẫn vì đã đọc sách hay nghe nói rằng đạo Phật đưa ra một phương pháp mới lạ để chiến thắng khổ đau, đạt đến một mức độ an bình và hạnh phúc. Nhưng thường thì chúng ta sẽ bị một cú sốc khi thấy các giáo lý và pháp môn tu tập mà đức Phật đã chỉ bày từ 2.500 năm trước không hề có mục đích chế phục hay xóa bỏ các cảm giác như cô đơn, không thoải mái hay sợ hãi, vốn luôn ám ảnh cuộc sống hằng ngày của ta. Ngược lại, đức Phật dạy rằng chúng ta chỉ có thể đạt được sự giải thoát duy nhất bằng cách bao dung với các nguyên nhân gây phiền não.
Tôi có thể hiểu được sự nản lòng của một số người khi tiếp nhận lời dạy này. Riêng tôi, tuổi thơ và những năm đầu mới lớn lên đã chìm sâu trong bất an và sợ hãi đến nỗi tôi chỉ có thể nghĩ đến điều duy nhất là trốn chạy!

Đài truyền hình tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giới thiệu Tủ sách Rộng mở tâm hồn

Đài truyền hình tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giới thiệu Tủ sách Rộng mở tâm hồn from Nguyen Minh Tien on Vimeo.

Đài truyền hình tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu giới thiệu Tủ sách Rộng mở tâm hồn và Tác giả Nguyên Minh

Giới thiệu công trình dịch kinh Đại Bát Niết Bàn

Đài truyền hình An Viên giới thiệu công trình dịch kinh Đại Bát Niết Bàn from Nguyen Minh Tien on Vimeo.

Đài truyền hình An Viên giới thiệu công trình dịch kinh Đại Bát Niết Bàn và dịch giả Nguyễn Minh Tiến

Trang hỗ trợ phát triển các website Phật giáo

http://rongmotamhon.net/mainpage/cac-trang-phat-giao-va-van-hoa_0_1.html

Trang này hiện giới thiệu 502 website Phật giáo và văn hóa trên khắp thế giới, bao gồm 422 website tiếng Việt và 80 website ngoại ngữ.

Hướng dẫn sử dụng: Trang này cung cấp các thông tin hữu ích về mỗi website Phật giáo, bao gồm xếp hạng trên toàn cầu theo Alexa Rank, theoSimilarWeb, theo Compete, cũng như Alexa Local Rank (tại Hoa Kỳ hoặc tại Việt Nam), Alexa reach rank (xếp hạng theo lượng truy cập), MOZ rank(điểm xếp hạng theo MOZ), Domain Authority (DA – độ tin cậy của website) theo đánh giá của các Search Engine và số liên kết ngoài (tổng số các liên kết trên toàn cầu dẫn đến website). Thông tin có độ chính xác cao vì được chúng tôi lấy trực tiếp và cập nhật mỗi ngày từ dữ liệu của các trang Alexa, MOZ, SimilarWeb và Compete.
Quý vị có thể chọn xếp hạng các site theo một trong các yếu tố như thứ hạng toàn cầu, ở Việt Nam, ở Hoa Kỳ, hoặc dựa theo xếp hạng của Moz Rank, hoặc theo độ tin cậy theo đánh giá của Search Engine.
Khi xếp hạng tổng quát, chương trình sẽ xếp theo cùng lúc cả bốn yếu tố là: thứ hạng toàn cầu theo Alexa, theo SimilarWeb, theo Mozrank và độ tin cậy (DA – domain authority).

Vật chất và tinh thần

http://rongmotamhon.net/mainpage/doc-sach-San-se-yeu-thuong-50-1333-online-2.html

Cuộc sống của mỗi chúng ta đều tồn tại nhờ vào sự kết hợp của hai giá trị vật chất và tinh thần. Tuy nhiên, có một khuynh hướng sai lầm rất phổ biến là không thấy được sự gắn bó và tương quan giữa hai giá trị này. Chính vì thế, đôi khi chúng ta quá xem trọng yếu tố vật chất, lại có đôi khi quá đặt nặng về mặt tinh thần. Nhưng sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này lại chính là nền tảng thiết yếu nhất để có được một cuộc sống an vui, hạnh phúc.

Khuynh hướng sai lầm này thật ra đã có mặt cùng với loài người từ rất xa xưa. Nhiều nhà hiền triết thời cổ đại được kể lại là đã chọn cách sống khắc khổ, xa rời mọi tiện nghi đời sống và không bao giờ thỏa mãn những nhu cầu vật chất của bản thân mình. Họ làm như thế vì tin rằng nhờ đó mà sẽ có được một đời sống tinh thần tốt đẹp hơn. Chính đức Phật Thích-ca trước khi thành đạo cũng đã từng trải qua 6 năm đi theo con đường khổ hạnh, hạn chế tối đa mọi nhu cầu vật chất. Nhưng sau đó ngài đã nhận ra sự sai lầm này và tìm ra hướng đi đúng đắn để đạt được sự giác ngộ. Và vì thế, con đường do ngài chỉ dạy là con đường duy nhất dẫn đến một đời sống thực sự an vui và hạnh phúc.

Mặt khác, quanh ta luôn có rất nhiều những con người chạy theo các giá trị vật chất. Đôi khi, nhìn vào cách sống của họ ta có cảm giác rằng chính những giá trị vật chất là tất cả những gì họ có. Họ tích lũy tiền bạc, của cải để trở nên giàu có, sung túc. Họ lao vào hưởng thụ những khoái lạc của đời sống, bất chấp mọi nguyên tắc đạo đức, luân lý. Họ sử dụng những giá trị vật chất có được để cố đổi lấy niềm vui trong cuộc sống, vì họ tin rằng đó là cách duy nhất để họ có thể làm được điều đó. Nhưng hầu hết những người như thế sớm muộn gì rồi cũng sẽ nhận ra sai lầm của mình. Bởi vì họ không bao giờ có thể thực sự có được niềm vui sống. Cái mà họ có được chỉ là những khoảnh khắc thỏa mãn thoáng qua, tạo cảm giác hài lòng trong phút chốc, nhưng kèm theo đó bao giờ cũng là vô số những hệ lụy khổ đau.

Sự thật là những giá trị vật chất và tinh thần vốn dĩ không bao giờ có thể tách rời nhau như hai phạm trù riêng biệt. Vật chất có được giá trị của nó phụ thuộc vào tinh thần, và các giá trị tinh thần bao giờ cũng chỉ tồn tại trên cơ sở những biểu hiện vật chất nhất định. Cái đẹp của một bức tranh không chỉ hoàn toàn do nơi những đường nét, màu sắc trong tự thân nó, mà còn tùy thuộc vào nhận thức, năng lực thẩm mỹ và thậm chí cả trạng thái tinh thần của người ngắm tranh.

Những niềm vui, nỗi buồn, sự thương yêu hay oán ghét, kính trọng hay khinh miệt… nảy sinh trong lòng ta là do nơi phản ứng của ta trước những biểu hiện vật chất mà ta tiếp xúc. Ngay cả tâm trạng của ta trong một lúc nào đó cũng luôn có sự phụ thuộc nhất định vào các yếu tố vật chất của môi trường bao quanh. Ngược lại, khi lòng ta đang tràn ngập một cảm xúc mạnh mẽ nào đó thì toàn bộ thế giới vật chất chung quanh đều sẽ thay đổi trong nhận thức của ta, như thi hào Nguyễn Du đã từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.”

Vì thế, việc tách rời hoặc đối lập các giá trị vật chất và tinh thần là một nhận thức sai lầm, không đúng thật. Và vì đó là một nhận thức sai lầm nên chúng ta chẳng bao giờ có thể dựa vào đó để có được một thái độ sống đúng đắn dẫn đến niềm vui và hạnh phúc.

Thái độ của chúng ta trong cuộc sống phụ thuộc vào nhận thức, nên khi nhận thức sai lầm phân biệt giữa các giá trị tinh thần và vật chất thì đồng thời chúng ta cũng nảy sinh thái độ chọn lựa, thiên lệch. Sự phán đoán của ta về những giá trị được, mất trong cuộc đời cũng dựa trên thái độ chọn lựa, thiên lệch đó. Khi tài sản tích lũy của ta gia tăng, ta cho rằng đó là được, nhưng thường không cân nhắc đến những giá trị tinh thần có thể đã suy giảm đi vì những hành động không chính đáng khi ta cố giành lấy những giá trị vật chất ấy từ người khác.

Lịch sử Trung Hoa ghi lại việc vua Đường Thái Tông là Lý Thế Dân ngay khi vừa lên ngôi đã giết hai người anh là Kiến Thành và Nguyên Cát để củng cố ngôi vua của mình. Hẳn nhiên ông ta cho rằng việc ngồi vững trên ngôi vua là một cái được, nhưng lại không biết rằng việc ra tay giết hại cả hai người anh ruột để đạt mục đích ấy là một cái mất quá lớn lao!

Lịch sử Việt Nam ghi nhận một trường hợp ứng xử hoàn toàn ngược lại. Khi vua Lý Thái Tổ vừa băng hà vào năm 1028, thái tử Phật Mã (tức vua Lý Thái Tông sau này) còn chưa kịp lên ngôi thì ba vị hoàng tử là Đông Chinh Vương, Dực Thánh Vương và Vũ Đức Vương cùng nhau làm phản, muốn giết thái tử. Nhờ sự giúp sức của dũng tướng Lê Phụng Hiểu cùng sự tận trung của triều thần và tướng sĩ, cuộc nổi loạn được dẹp yên. Vũ Đức Vương bị Lê Phụng Hiểu chém chết ngay giữa trận, Đông Chinh Vương và Dực Thánh Vương đều bị bắt giam. Dù vậy, ngay sau khi lên ngôi, vua Lý Thái Tông đã ban lệnh đại xá cho tội nhân khắp nước, và tha thứ cả tội phản loạn của hai người em, lại cho phục hồi chức tước như cũ. Bằng cách ứng xử này, rõ ràng là vua Lý Thái Tông đã có một nhận thức hoàn toàn khác biệt so với vua Đường Thái Tông. Và điều này cũng tiếp tục được thể hiện trong suốt những năm trị vì của ông vua nhân ái này.

Trong cuộc sống hằng ngày, có rất nhiều việc mà sự chọn lựa ứng xử của chúng ta luôn phụ thuộc vào khái niệm được hay mất. Khi buông bỏ một giá trị vật chất, chúng ta thường cho là mất, nhưng kỳ thật còn phải cân nhắc mục đích của sự buông bỏ ấy như thế nào mới có thể xác định đó là được hay mất. Khi có thêm một phần giá trị vật chất, chúng ta thường cho là được, nhưng kỳ thật cũng cần xét đến những giá trị tinh thần tương quan mới có thể xác định đó là được hay mất. Và chỉ khi nhận thức đúng về sự được, mất trong cuộc sống thì chúng ta mới có thể có một cuộc sống an vui và thực sự có ý nghĩa.

Người xưa nói: “Làm người giàu sang thì đánh mất nhân nghĩa.” (Vi phú bất nhân.) Thật ra, câu nói ấy chỉ đúng khi sự giàu có được tạo ra bằng những thủ đoạn gian trá và sự áp bức, bóc lột người khác. Ngày nay, có rất nhiều người làm giàu một cách chính đáng bằng tài năng và công sức của chính họ, những người ấy không hề đánh mất nhân nghĩa.

Vì vậy, câu nói trên cũng có thể xem là đã phản ánh phần nào thái độ cực đoan trong sự lựa chọn giữa các giá trị vật chất và tinh thần. Ở đây, chúng ta thấy rõ sự đối nghịch và loại trừ nhau giữa hai giá trị, trong khi thực tế là chúng cần phải được nhìn nhận trong mối tương quan gắn bó không tách rời. Vì thế, có thể nói rằng sự nhận biết và thay đổi quan điểm sai lầm này là một điều rất quan trọng và cũng không phải dễ dàng.

Thật ra, với bản năng yêu thương sẵn có, mỗi người chúng ta đều muốn làm những điều tốt đẹp cho người khác, đều muốn giúp đỡ những người khốn khó. Nhưng chính ý tưởng không muốn mất đi các giá trị vật chất nhiều khi đã ngăn cản chúng ta làm những việc tốt đẹp như thế. Nếu thấy được mối tương quan giữa vật chất và tinh thần, chúng ta sẽ thấy rằng việc sử dụng đúng đắn một phần giá trị vật chất nào đó để làm được những điều tốt đẹp không bao giờ là mất đi, vì nó luôn mang lại cho chúng ta những giá trị tinh thần nhiều lần hơn thế nữa.

Điều này không hề mang tính triết lý suông, mà là một thực tế, nhưng cần đến sự sáng suốt, tinh tế mới có thể nhận ra được. Khi bạn có thể làm được những điều tốt đẹp thuận theo bản năng yêu thương của mình, bạn sẽ có được nhiều niềm vui và nghị lực trong cuộc sống. Vì thế, điều chắc chắn là bạn sẽ có được sự sáng suốt và nguồn cảm hứng tốt hơn trong mọi công việc. Và điều này sẽ mang lại cho bạn những kết quả tốt đẹp hơn, những giá trị vật chất lớn lao hơn. Như vậy, kết thúc chu kỳ tương quan này, bạn không những chẳng hề mất đi mà còn thường là có được nhiều hơn bạn tưởng.

Người đang giữ danh hiệu giàu có nhất thế giới, ông Bill Gates, đã từng có cách nói rất hay khi diễn đạt mối tương quan này. Khi được hỏi về những khoản tiền kếch sù hàng tỷ đô-la mà ông đã bỏ ra cho các quỹ từ thiện xã hội, ông nói: “Tôi chỉ trả lại cho thế giới những gì mà thế giới này đã cho tôi.” Con đường đi của các giá trị vật chất là như thế. Chúng không hề mất đi khi được sử dụng vào những công việc tốt đẹp, chỉ có điều là sự trở lại của chúng thường không được ta nhận biết một cách rõ ràng mà thôi.

Sự thật là nếu chúng ta chỉ biết bo bo giữ chặt lấy những giá trị vật chất mà mình đang có, thì chính điều đó sẽ làm cho tâm hồn ta trở nên hẹp hòi, ích kỷ. Chính sự hẹp hòi đó sẽ ngăn không cho ta có được sự sáng suốt và cảm hứng sáng tạo trong công việc, cũng như khiến cho ta phải mất dần đi những mối quan hệ tốt đẹp trong công việc. Kết quả là ta sẽ không tránh khỏi những khó khăn nhất định. Như vậy là, thay vì có thể tạo ra được những giá trị vật chất lớn hơn, ta lại đang lãng phí thời gian trong việc cố giữ lấy phần vật chất nhỏ nhoi đang có được.

Vì thế, nếu bạn có thể nhận biết được mối tương quan giữa các giá trị tinh thần và vật chất, bạn sẽ thấy cuộc sống trở nên đơn giản hơn và có rất nhiều sự tính toán so đo của chúng ta trong cuộc sống thật ra là sai lầm và hoàn toàn không cần thiết!

Những trạng thái tâm lý

http://rongmotamhon.net/mainpage/doc-sach-Dung-mat-thoi-gian-vi-nhung-dieu-vun-vat-2-45-online-2.html

Trạng thái tâm lý là một trong những sự thật khó hiểu không thể tránh khỏi, và đôi khi khá bực mình trong cuộc sống. Tuy nhiên, một sự hiểu biết về các trạng thái tâm lý có thể giúp bạn thay đổi được rất nhiều các trường hợp, mà nếu không khéo có thể là sẽ gây ra lắm điều khó chịu, và cũng giúp cho cuộc sống của bạn trở nên êm ả hơn, dễ thu xếp hơn.
Trạng thái tâm lý cũng giống như là một kiểu «thời tiết nội tâm» thay đổi liên tục. Và cùng với những thay đổi trong tâm trạng chúng ta là những nhận thức khác nhau về cuộc sống. Nói chung, khi chúng ta ở trong những tâm trạng tốt, hay một trạng thái tâm lý tốt, thì cuộc sống thường là rất tốt đẹp. Bất kể là có bao điều khiếm khuyết, bạn vẫn thấy biết ơn gia đình và cuộc sống hiện tại. Trong phần lớn các trường hợp, bạn chấp nhận cuộc sống như thực tế và thực hiện mọi nỗ lực, cố gắng để tận dụng tốt nhất những gì hiện có.

Những khó khăn dường như không bao giờ đưa đến bí lối, và những giải pháp tốt đẹp dường như tự tìm đến với bạn một cách khá dễ dàng. Bạn cảm thấy thật may mắn vì mình đã có được một gia đình và một mái nhà êm ấm để sống trong đó. Nếu bạn có được một khu vườn, bạn sẽ say mê với vẻ đẹp của nó.
Trong tâm trạng tốt đẹp, bạn yêu thương con cái và vợ (hoặc chồng) mình. Bạn tự hào về cuộc sống chung hòa hợp và tình yêu thương như thấm đẫm trong cuộc sống gia đình. Bạn thực hiện tất cả những trách nhiệm, bổn phận một cách đầy đủ và vượt qua hết những chuyện bực mình hàng ngày phải đối mặt. Nếu có ai phê phán, chỉ trích, bạn cũng chỉ cười nhận và biết rằng lời chỉ trích ấy tất nhiên phải có cơ sở nào đó. Nói tóm lại, bạn giữ vững được triển vọng tốt đẹp cho mình và một tâm trạng vui vẻ, tận hưởng một cách hoàn hảo nhất những gì đến từ cuộc sống.
Tuy nhiên, trong tâm trạng suy sụp thì cũng với cùng những điều kiện và hoàn cảnh tương tự như thế trong cuộc sống, mọi việc sẽ khác đi rất nhiều. Mọi thứ đều trở nên nghiêm trọng và thúc giục. Bạn có rất ít sự kiên nhẫn hoặc khả năng tha thứ cho những gì khiếm khuyết. Thay vì biết ơn cuộc sống, bạn lại thường muốn than phiền và nghĩ nhiều đến những mặt không hoàn thiện của nó. Mặc dù bạn rất yêu thương con cái, nhưng bạn dễ dàng thấy khó chịu và bực bội vì sự quan tâm mà chúng đòi hỏi và những khó khăn trong việc chăm lo cho quá nhiều những nhu cầu của chúng. Căn nhà của bạn dường như trở nên một gánh nặng hơn là một điều may mắn mà bạn có được. Bạn nhận ra và suy nghĩ nhiều về những khuyết điểm của vợ (hoặc chồng) mình và quy lỗi về mọi việc xảy ra trong gia đình. Khi có gì đó trong nhà hư hỏng hoặc đổ vỡ, bạn quan trọng hóa vấn đề lên quá mức và nhắc đến luôn luôn. Tất cả mọi chuyện dường như đều trở thành vấn đề và đều là gánh nặng. Nói tóm lại, bạn cáu gắt với những chuyện vặt vãnh theo một cách rất quá đáng.
Hãy nghỉ ngơi thư giãn. Trong một chừng mực thế này hoặc thế khác, tất cả chúng ta đều mắc phải những điều này. Từ một khía cạnh nào đó, trạng thái tâm lý của chúng ta là nguồn gốc của mọi vấn đề, chứ không phải là kết quả ảnh hưởng từ sự việc. Tâm trạng của chúng ta quyết định cách mà chúng ta nhìn và cảm nhận cuộc sống. Khi tâm trạng được cải thiện, cuộc sống sẽ dường như tốt hơn lên. Khi tâm trạng suy sụp xuống, cuộc sống dường như tệ hại và khó khăn hơn nhiều. Một lần nữa, để có thể hiểu rõ thêm các trạng thái tâm lý của bạn là quan trọng đến mức nào, hãy lưu ý việc cuộc sống của bạn có thể khác biệt đi như thế nào, ngay cả chỉ trong thời gian giờ trước và giờ sau, tùy thuộc vào tâm trạng của bạn.
Vấn đề rất đơn giản là, biết cách nhận ra và chấp nhận những thay đổi trong tâm trạng của bạn có thể tạo được những khác biệt lớn trong phẩm chất cuộc sống của bạn, và làm giảm đi đáng kể những phản ứng quá khích. Điều quan trọng là phải chấp nhận một thực tế, việc thay đổi tâm trạng là một sự thật trong cuộc sống, và hiểu được những điều không thể nào tránh được khi bạn đang ở trong tâm trạng xấu. Hãy nhớ rằng, sự thật thì không phải chính bản thân cuộc sống có thể thay đổi tồi tệ đi chỉ trong vài giờ qua, mà chính là sự thay đổi đến từ tâm trạng của bạn.
Sự chấp nhận như thế có thể mang lại cho bạn những triển vọng tốt đẹp. Bạn có thể biết trước là mọi việc sẽ hiện ra theo hướng tệ hại khi tâm trạng bạn đang xấu đi. Sự dự đoán này cho phép bạn giảm bớt căng thẳng đối với những việc đang quấy nhiễu bạn. Bạn cũng biết rằng mọi chuyện đến từ nơi một tâm trạng không tốt, mà không thể quy lỗi cho cuộc sống hoặc cho gia đình mình về những vấn đề đang gặp phải. Hãy nhớ rằng, nếu có điều gì đó thật sự tạo ra cảm giác xấu cho bạn, điều đó hẳn đã thường xuyên gây ra tác dụng xấu này. Tuy nhiên, rõ ràng chẳng có điều gì có thể quy cho như vậy cả. Sự thật là, hầu hết những gì khiến bạn phải bận tâm nhiều trong một trạng thái tâm lý xấu, cũng chính là những gì mà bạn có thể dễ dàng vượt qua trong một trạng thái tâm lý tích cực hơn.

Nét đẹp trong cuộc sống

Một người bạn họa sĩ có lần hỏi tôi: “Anh ngắm hoa như thế nào để thấy hết vẻ đẹp của hoa?” Tôi trả lời anh ta: “Nếu anh ngắm hoa vì muốn thấy hết vẻ đẹp của nó, anh sẽ không bao giờ đạt được ý nguyện. Thay vì vậy, anh hãy tiếp xúc với bông hoa.”

Cuộc sống cũng là một bông hoa, và là một bông hoa rất tuyệt vời. Nếu chúng ta viết ra hàng năm mười chương sách để mô tả vẻ đẹp của cuộc sống, chúng ta cũng sẽ không bao giờ có thể nói hết, và vì thế mà người đọc cũng sẽ chẳng thể cảm nhận hết những gì mà chúng ta muốn mô tả.

Khi tôi ngắm hoa, tôi không nghĩ là mình đang tìm kiếm vẻ đẹp của bông hoa. Bông hoa là một thực thể trong cuộc sống. Tôi cũng là một thực thể trong cuộc sống. Tôi và hoa cùng hiện hữu. Tôi có mặt nơi đây là vì bông hoa và bông hoa cũng hiện hữu nơi đây là vì tôi. Từ đó, tôi cảm nhận được vẻ đẹp của bông hoa, màu sắc và hương thơm, những đường nét tinh tế… Tôi không hề có ý niệm muốn chiếm hữu bông hoa hay vẻ đẹp của nó. Tôi hiện hữu cùng bông hoa và vì thế tôi tiếp xúc được với nó.

Bằng cách đó, tôi có được những rung động sâu xa nhất mà một tác phẩm nghệ thuật thiên nhiên tuyệt vời có thể mang lại cho con người. Tôi cảm nhận được hoàn toàn vẻ đẹp của bông hoa, mặc dù tôi chỉ có thể phác họa hoặc miêu tả lại vẻ đẹp ấy một cách rất hạn chế bằng năng khiếu diễn đạt rất tồi của mình. Nhưng nếu bạn cũng muốn cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp ấy, tôi mời bạn hãy tiếp xúc cùng bông hoa.

Vẻ đẹp của bông hoa cuộc sống cũng vậy. Chỉ có một số rất ít nghệ sĩ lớn của nhân loại mới có đủ tài năng để miêu tả lại phần nào vẻ đẹp ấy trong các tác phẩm của họ. Nhưng bất cứ ai cũng có thể có khả năng tiếp xúc với đời sống để cảm nhận những vẻ đẹp ấy.

Chúng ta quay cuồng trong cuộc sống bận rộn, lo toan việc này, tính toán việc kia… Trong thời gian biểu hàng ngày của chúng ta không có khoảng thời gian nào dành cho một bông hoa, càng không có thời gian nào để thật sự tiếp xúc cùng cuộc sống. Ta trải qua bao nhiêu năm trong cuộc đời nhưng có khi chưa một lần thảnh thơi tiếp xúc cùng cuộc sống.

Cũng như việc tiếp xúc với một bông hoa, ta chỉ bắt đầu tiếp xúc cùng cuộc sống khi nào ta chịu dừng lại và buông bỏ tất cả những lo toan, tính toán của mình.

Khi chúng ta thật sự tiếp xúc cùng cuộc sống, ta nhìn thấy sự vật với chiều sâu và bản chất của nó. Ta thấy dòng sông không chỉ là dòng sông, mà còn là sự luân lưu mầu nhiệm muôn đời của nước. Ta thấy hơi nước bốc lên không trung, đọng thành những đám mây mát mẻ, và đổ xuống thành những cơn mưa làm tươi xanh vạn vật. Không có sự luân lưu mầu nhiệm ấy, dòng sông không thể tồn tại qua bao đời mà vẫn là dòng sông…

Ta cũng nhìn thấy chồi non đâm ra từ một cây xanh đã hàm chứa cả những cây xanh ngày mai trong nó. Cây sinh ra chồi là để còn có một ngày chồi lớn lên thành cây, nối tiếp việc đơm hoa kết trái và trở thành những thế hệ cây xanh nối nhau không dứt…

Ta cũng nhìn thấy quanh ta là những con người rất tuyệt vời, mầu nhiệm. Trong em bé ta nhìn thấy cha mẹ của em. Ta cũng nhìn thấy cả ông bà và nhiều thế hệ tổ tiên của em đã từng sống trước em từ xa xưa nữa… Tất cả họ đều hiện diện trong em vì em đang sống. Dòng máu em, xương thịt em… đều do họ mà có và cũng vì sự nối tiếp của họ mà có. Những gì em biểu hiện hôm nay, ngày xưa họ đã từng biểu hiện. Và một mai khi em không còn nữa, vẫn sẽ có ở đâu đó những con người nối tiếp sự hiện hữu của em.

Ta cũng nhìn thấy tất cả quanh ta là một thực thể thống nhất nhiệm mầu. Từ không khí trong lành ta đang hít thở, ánh nắng mai ấm áp trên những bụi cây xanh… cho đến những áng mây đang vờn bay xa tít tắp cuối chân trời… Tất cả đều quan hệ chặt chẽ với ta, đều vì ta mà có và cũng do ta mà có. Ta biết rằng cuộc sống bao hàm tất cả những thực thể hiện hữu luôn gắn bó chặt chẽ, tương tác lẫn nhau. Nhìn vào bát cơm, ta thấy có bông lúa trĩu hạt, có bác nông dân cày bừa khuya sớm, có ánh nắng, cơn mưa, dòng nước mát đã nuôi lớn đồng lúa xanh… Nếu không có bác nông dân cày bừa khuya sớm, không có ánh nắng, cơn mưa., làm sao có đồng lúa trĩu bông? Không có đồng lúa, làm sao có bát cơm ta đang nhìn thấy?

Nhưng bác nông dân, ánh nắng, cơn mưa… lại tồn tại nhờ vào nhiều yếu tố khác nữa. Bác nông dân đã lớn lên nhờ khoai sắn ruộng vườn, nhưng cũng cần có quần áo để mặc, thuốc men khi bệnh tật, đèn dầu để thắp lúc về đêm… Vì thế sự sống của bác lại liên quan đến nhiều người khác nữa.

Ánh nắng ấm trên đồng lúa cũng cần những điều kiện tương quan chặt chẽ để tồn tại vai trò tích cực của mình. Người ta đang phá hỏng tầng ozone ở đâu đó. Nếu tiến trình này không bị ngăn chặn lại, một mai kia ánh nắng sẽ không tồn tại được như ngày nay. Cả đến những cơn mưa cũng vậy. Trên thế giới đã có nhiều nơi hứng chịu những cơn mưa acid độc hại. Nắng mưa không chỉ hoàn toàn là “chuyện của trời” như ngày xưa người ta vẫn nói. Nắng mưa giờ đây đã chịu ảnh hưởng bởi con người chúng ta.

Tiếp xúc thật sự với đời sống, ta mới cảm nhận được vai trò của bà mẹ thiên nhiên. Cư dân những thành phố đông đúc ngày nay mắc phải rất nhiều chứng bệnh lạ kỳ. Đôi khi người ta không thể chỉ ra được là bệnh gì, chỉ biết là họ không thể sống được hoàn toàn tự nhiên, khỏe mạnh. Điều đó chẳng qua là vì họ xa mẹ quá lâu – bà mẹ thiên nhiên không sao đến gần cùng họ được trong những khối nhà bê-tông cốt thép. Họ sống trong những khối bê-tông, làm việc trong những khối bê-tông, đi mua sắm cũng trong những khối bê-tông… Không mấy khi họ được tiếp xúc cùng thiên nhiên tươi mát.

Ngay cả việc tiếp xúc bằng mắt thôi cũng đã hạn chế lắm rồi. Thử ngước nhìn lên bầu trời đô thị, dây điện chằng chịt qua lại và những tòa nhà cao ngất trời, có còn lại bao nhiêu khoảng không để ngắm nhìn? Ban đêm, những đêm có trăng, ánh trăng như nhợt nhạt, biến sắc hẳn đi vì những ánh điện sáng rực đủ màu hắt cả lên bầu trời đêm chói lọi. Thế nên ngay cả ánh trăng thành phố cũng không còn là ánh trăng thiên nhiên nữa.

Việc kiến thiết những đô thị mới ngày nay đang dành nhiều diện tích thích hợp cho cây xanh. Đó là tin tốt lành. Và nếu giữa thành phố nơi bạn sống còn có những cây xanh, những khoảng không thoáng mát, bạn hãy tranh thủ mà tận hưởng nó mỗi ngày. Hãy nhớ rằng, thiên nhiên là một phần trong cuộc sống của bạn. Dù bạn có chối từ hay chấp nhận điều đó, cuối cùng bạn vẫn phải cần đến thiên nhiên để có được một cuộc sống khỏe mạnh, yên vui.

Tương quan chặt chẽ giữa các yếu tố trong cuộc sống không chỉ là sự tác động tương hỗ cùng tồn tại với nhau. Đó còn là mối tương quan chuyển hóa từ yếu tố này thành yếu tố khác. Dưới ánh mặt trời, mỗi ngày có một khối lượng vật chất khổng lồ được chuyển hóa trên toàn thế giới mà bạn sẽ không sao tưởng tượng nổi. Mỗi một lá cây xanh bé xíu đều tham gia tích cực trong quá trình này, và có vô số những lá cây xanh như thế…

Mỗi ngày cũng có một lượng lớn phân rác hoai mục đi, và chúng được cây xanh hấp thụ để chuyển hóa thành hoa trái, rau củ… Hiểu được điều này, chúng ta có thể nhìn vào một giỏ rác và thấy được những hoa trái, rau củ của ngày mai. Chúng ta cũng nhìn thấy bình hoa tươi đẹp trong phòng khách hôm nay rồi sẽ héo rũ và đi vào giỏ rác. Trong cái đẹp của hoa đã hàm chứa cái không đẹp của rác, và trong cái xấu xí, hôi hám của rác đã hàm chứa cái xinh đẹp, thơm tho của hoa.

Chuỗi tiếp nối nhiệm mầu của cuộc sống ngày đêm liên tục diễn ra, bất kể ta có nhận thức được điều đó hay không. Những tinh cầu xa xôi vẫn đi đúng quỹ đạo của mình, cho dù viễn vọng kính của con người có nhìn thấy chúng hay không. Nhưng chỉ cần một trong các tinh cầu đi sai quỹ đạo, tai họa khủng khiếp sẽ đến ngay cho cả thiên hà… Cuộc sống được vận hành kỳ diệu như thế.

Tôi có người bác dâu, vừa mất cách đây không lâu. Trước khi mất, bà có lần nói với các con mình: “Cuộc sống quanh ta còn rất nhiều người thiếu thốn, khổ sở. Các con nên làm điều gì đó để chia sẻ khi có dịp.” Một trong những người con trai của bà đã tiếp nhận lời khuyên đó và bỏ tiền mua một tấn gạo để tham gia vào công tác cứu trợ người nghèo.

Bà là người buôn bán rất thành công và để lại cho các con một sản nghiệp to lớn. Nhưng tôi cho rằng lời khuyên của bà có giá trị còn hơn cả sản nghiệp ấy. Mặc dù bà không được học hành nhiều lắm, nhưng chính bằng vào trực giác và bằng vào tấm lòng, bà đã nhận ra mối tương quan giữa tất cả mọi người trong xã hội. Chúng ta không thể có hạnh phúc nếu không biết chân thành chia sẻ khó khăn cùng đồng loại.

Vì thế, khi tiếp xúc thật sự với đời sống, ta thấy lòng mình rộng mở hơn. Ta cũng thấy mình sống có trách nhiệm hơn vì không có một con người nào trong cuộc sống có thể nói là không liên quan đến ta. Ở Thái Lan người ta vừa phá một ổ mại dâm và cứu thoát được những người bị bán vào đó để làm việc bán dâm. Có cả những em bé gái chỉ mới từ 6 đến 10 tuổi. Ta cảm nhận đó là nỗi đau của cả nhân loại, trong đó có chính ta. Ta phải nhận một phần trách nhiệm về mình. Tội ác xảy ra với các em một phần nào đó cũng do nơi tất cả chúng ta, những người lương thiện, đã không làm một điều gì đó đủ sức để ngăn ngừa tội ác hoặc để cứu giúp các em…

Ta cảm nhận được nét đẹp trong cuộc sống qua sự tiếp xúc sâu xa cùng mọi sự việc. Khi đó ta sẽ thấy không chỉ những nét hoa mỹ, những biểu tượng thành công, giàu sang, khỏe mạnh… mới là tiêu biểu cho nét đẹp trong cuộc sống. Ngay cả những gì không đẹp, khó khăn, nghèo khổ, tội lỗi… cũng là những yếu tố của cuộc sống, và đều liên quan chặt chẽ đến ta. Xây dựng một đời sống đẹp là biết hòa nhập và thương yêu chia sẻ cùng tất cả, không phải là việc lựa chọn lấy những gì tốt đẹp để tôn thờ, theo đuổi. Chúng ta sẽ có nhiều niềm vui và hạnh phúc hơn khi ý thức được rằng chính bản thân mình đang góp phần làm đẹp hơn cho cuộc sống.