Tiểu sử Thiền sư Lai Quả

TIỂU SỬ THIỀN SƯ LAI QUẢ

Sư tên Diệu Thọ tự Lai Quả, hiệu là Tịnh Như, con nhà nông họ Lưu, quê ở huyện Hoàng-Cương, tỉnh Hồ Bắc.
Năm lên bảy, Sư nghe vị Tăng bên cạnh tụng câu “Vô trí diệc vô đắc” trong Tâm Kinh, Sư có tỉnh ngộ.
Năm 12 tuổi, Sư có chí thoát trần, trốn đi xuất gia, bị người anh tìm bắt trở về.
Năm 15 tuổi, Hòa Thượng Đại Trí dạy lấy niệm Phật để liễu thoát sanh tử, Sư bèn niệm Phật thành phiến, cho đến ngủ chiêm bao cũng vẫn lớn tiếng niệm Phật. Hòa Thượng nói: “Đây là chân thật niệm Phật. Vậy niệm Phật là người nào? Ông biết không?”. Sư không đáp được. Hòa Thượng nói:
“Đợi ông tìm ra người niệm Phật, ta sẽ nói chuyện với ông.”
Năm 18 tuổi, Sư cắt gan trị bịnh cho cha.
Năm Ất-Tî (1905 TL) Sư 25 tuổi đi hành hương ở núi Phổ Đà, gặp một vị tăng khổ hạnh, Sư cảm kích bèn xuống tóc ở núi Bảo Hoa, Sư bị Chư Tăng trong Chùa hành hạ khổ sở chẳng xiết, trốn đến bờ sông, nhiều ngày bị nhịn đói, cùng với chó hoang ở chung, muốn đâm đầu xuống sông tự vận, bỗng gặp vị Tăng ở Chùa Di Đà ở Kinh Khẩu cứu kịp. Sư theo vị Tăng ấy đến Chùa Kim Sơn, song vì chưa thông thuộc quy củ nên một hôm bị đánh hơn bốn trăm hương bản.
Ngày 26-9 năm Quang Tự thứ 34 (1908 TL), Sư nghe tiếng mõ khai tịnh sau thời khóa công phu buổi chiều tối, hoát nhiên thoát-lạc như buông gánh nặng ngàn cân, đánh mất cái mũi mẹ sanh, khóc to chẳng nín, hư không trên trời, nước chảy dưới đất, tất cả trệ ngại hoàn toàn tiêu hết, cơ dụng hiện tiền có hỏi liền có đáp. Hòa Thượng, Ban Thủ đến tận nơi khen ngợi.
Một hôm Từ Bản lão nhân đưa cái khăn tay ra làm thế rửa mặt, hỏi Sư:
“Là cái gì?”. Sư nói: “Đã dư chiếc khăn tay rồi.”. Từ lão nhân chẳng đáp mà lui. Sư từ đấy càng thận trọng.
Sư từng được sung chức phạn đầu, hết sức phụng sự nhà Chùa một cách tiết kiệm. Thủ-tọa khuyên Sư đảm nhiệm chức vụ ban thủ. Sư tự thấy mình còn kém bèn trốn sang Chùa Cao-Mân, cũng bị đảm nhiệm chức vụ ban thủ. Sư bỗng có ý du phương di ẩn tu ở núi Chung Nam, gặp Cư Sĩ Cao Hạt Niên hối thúc trở về Nam.
Sư trở về Chùa Cao Mân, Tổ Nguyệt Lãng sai Minh Hiên lão nhân chọn ngày truyền pháp cho Sư. Lúc lâm chung, Tổ nắm tay buộc Sư phải phát nguyện:
“Sấng làm người Cao Mân, chết làm quỷ Cao Mân”.
Sau khi nhậm chức trụ trì, Sư khôi phục lại quy chế cũ, lấy việc kiến thiết sửa sang bảo tháp, đại điện, thiền đường, diên thọ đường, như ý liêu, năm công trình lớn nầy làm chí nguyện, song cho đến khi tịch mà chưa viên mãn. Sư mong ước thừa nguyện lực tái lai để tiếp tục công trình cho hoàn tất. Chỉ có Cổ Lương Đình là làm xong, phong cảnh thanh-u, làm tăng thêm pháp hỷ cho người.
Sư thuận theo lời khẩn thiết thỉnh cầu của các nơi, y theo lệ trước của Triệt Tổ Thiền Tuệ soạn quyển Tự Hành Lục ghi lại đầy đủ hành trạng cả một cuộc đời khôi-vĩ dị thường của Sư. Quyển sách nầy đã được ấn hành phục trong bộ Ngữ Lục.
Sư thân hình cao lớn trắng trẻo, mắt nhỏ, tiếng to. Từ 50 tuổi về sau, Sư hành hạnh đầu đà, và nếu chí mình chưa toại thì chẳng cạo bỏ râu tóc để đau đáu nhớ mãi chí nguyện của mình, nhưng nghi biểu lại càng oai nghiêm, tánh tình cứng cỏi chân thật, gặp việc thì cố gắng hết sức làm, khiến cho ý không tốt của người tự tiêu tan. Cả đời Sư chỉ lấy hoằng pháp, ngộ đạo làm nhiệm vụ, đánh hét đều dung, chuông trống xen nhau, chưa từng có chút lười mỏi. Đương thời, Hòa Thượng Hư Vân là người được sự trọng vọng trong Tông Môn, tuy lớn tuổi hơn Sư mà cùng với Sư khế hợp không gián cách.
Có một lần, nhà Chùa cần muốn hóa duyên để sửa tháp, Sư nhóm họp đồ chúng lại luận bàn, trong số chúng có mấy người phát nguyện lãnh trách nhiệm đi các nơi hóa duyên. Có một vị Tăng đến Vũ Hán cảm động sự phát tâm của thí chủ bèn tự chặt cánh tay để đền đáp, mọi người xa gần đều kinh ngạc ngợi khen.
Sư tịch ở Thượng Hải, linh cữu đưa về Chùa Cao Mân, làng lân cận có một bà lão Phật tử tự chặt một ngón tay sai con mang đến trước linh cữu cúng dường. Chánh pháp cảm người vừa sâu rộng vừa lâu dài nên người nhờ sự giáo hóa của Sư mà làm được như vậy.
Sư sanh vào giờ dần, ngày 2-7 năm Tân-Ty (1881 TL) nhằm năm Quang Tự thứ bảy, diệt độ vào giờ dần, ngày 17-10 năm Quý Tî (1953 TL). Sư thọ 75 tuổi, tăng lạp 49 xuân, giới lạp 49 hạ, pháp lạp 39 thu, trụ trì 35 đống.
Ngày mùng một tháng 11, linh cữu từ tinh thất ở Thượng Hải được đưa về Chùa, mùng 8 tháng chạp trà tỳ, bốn chúng vân tập đau buồn thương tiếc như đưa đám ma cha mẹ. Xá-lợi rất nhiều, sáng như lưu ly năm màu chói lọi. Giờ Thìn ngày 4-4 năm sau nhập tháp rồi cất đình ở bổn tự (Cao Mân) để thờ tháp Xá Lợi.

GƯƠNG THIỀN (Thiền Gia Quy Giám) 

Tây Sơn Đại Sư ( 1520 ~ 1604 )
Tào Khê Thối Ẩn thuật
Thị Giới: dịch Việt
THIỆN TRI THỨC 2016

 

Lời Đầu Bản Dịch Tiếng Việt

Thiền thì đốn ngộ Tự Tánh tức Phật Tánh rồitiệm tu (Diệu tu). Giáo thì đạt đến Nhất Tâm và tu trong Nhứt Tâm đó.
Hành giả Giáo môn thực hành theo lời Phật dạy trong Kinh để đạt được tâm chuyên nhất. Nơi tâm chuyên nhất, tu tập qua nhiều từng bực, nếm từng phần mùi vị của Pháp, hướng đến cứu cánh toàn giác. Hành giả tu Thiền theo lời dạy của Thầy, Tổ để có được cái thấy ban đầu gọi là đốn ngộ hay thấy Tánh, sau đó tiệm tu, giữ gìn và vận dụng cái thấy đó cho đến khi hoàn toàn sáng tỏ, hoàn toàn nhuần nhuyễn.
Giáo như bản đồ đường bộ vẽ con đường dẫn lên đỉnh núi. Thiền như bức không ảnh cho thấy khung cảnh đỉnh núi. Dù dùng bản đồ đường bộ hay không ảnh, cả hai đều cùng hướng về một đỉnh núi, theo con đường Giới-Định-Huệ của Giáo, hay Huệ-Định-Hạnh của Thiền. Nơi Giáo môn, Giới-Định-Huệ hiển bày trong Một Vị, hay Nhất Tâm. Nơi Thiền, Huệ-Định-Hạnh toàn chứa trong Thấy Tánh hay Vô Niệm. Lúc nào cũng ở trong Nhất Tâm là lúc nào cũng ở trong Giới-Định-Huệ, lúc nào cũng Thấy Tánh là lúc nào cũng ở trong  Huệ-Định-Hạnh. Nơi Nhất Tâm hay Một Vị, Giới-Định-Huệ là một. Trong Thấy Tánh hay Vô Niệm, Huệ-Định-Hạnh là một. Đó là ba thời bình đẳng.
Theo ngài Tây Sơn Đại Sư, Giáo là Lời của Phật, Thiền là Tâm của Phật. Giáo môntheo lời dạy của Phật mà đi vào Tâm Phật, Thiền theo sự khai mở của Tổ mà vào ngayTâm Phật. Cả hai đều có cùng một đích là tỏ bày cái không lời, cùng đi đến một cứu cánh là cái không thể gọi tên tả hình, vượt ngoài tri giải. Cái đó chính là Tánh Phật cũng là Tánh Không.
Giáo và Thiền do đó không phải là hai cánh cửa, hai con đường hoàn toàn biệt lập, không thể hổ trợ cho nhau.
Đặc biệt trong phần Tế Hạnh, Tây Sơn Đại Sư dạy rõ về những hạnh mà người tu Thiền thường không coi trọng. Đó là những hạnh như: Bố thí, Giữ giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Trì chú, Lễ bái, Niệm Phật, Nghe Kinh v.v.
Thiền Gia Quy Giám được ngài Tây Sơn Đại Sư, một vị Thiền Sư ngộ đạo lại học rộngnhớ nhiều, từng hoạt động trong nhiều môi trường và hoàn cảnh, viết ra để dạy đệ tửthuộc nhiều căn cơ. Do đó, ngài đã dùng những phương tiện thiện xảo để dẫn vào Nhứt Vị hay Nhứt Tâm của Phật, Kiến Tánh của Tổ, mở cửa cho sự thành tựu Giới Định Huệ và lục độ, vạn hạnh.
Nội dung của Thiền Gia Quy Giám có thể được tóm tắt bằng lời của Đại sư viết trong phần kết luận cuốn sách: “Toàn giáo pháp bắt đầu với cái không thể gọi tên tả hình, kết thúc với việc không còn tri giải. Bao nhiêu vướng mắc, một câu phá hết” và “Trước sau một nghĩa, giữa nêu vạn hạnh.”
Trong nhiều thế kỷ cho đến ngày nay, Thiền Gia Quy Giám đã được coi như cẩm nangtu học của tăng, ni và cư sĩ ở Đại Hàn, Trung Hoa, Nhật Bản cả trong Thiền lẫn Giáo.
Tôi mạo muội dịch ra tiếng Việt cuốn sách nhỏ vô giá nầy, trước là để tự học hỏi, sau làhy vọng có thể góp một phần nhỏ vào kho tàng Phật học, nhất là Thiền học nước nhà. Nếu có được chút ít công đức, xin hồi hướng cho tất cả chúng sanh và nguyện đượcgặp nhau trong Pháp Hội Long Hoa của Đức Di Lặc.
Bản tiếng Việt nầy được dịch theo bản dịch tiếng Anh The Mirror of Zen của Thiền sưHyon Gak Sunim và bản chữ Hán Thiền Gia Quy Giám của Tây Sơn Đại Sư do CBETA (Trung Hoa Điện Tử Phật Điển Hiệp Hội) phổ biến. Để tiện cho sự tham khảo của độc giả, trong phần chú thích, tôi để thêm âm Hán Việt những câu chủ đề của mỗi chương và  những câu trích dẫn trong ngoặc kép, và kèm theo bản Hán văn.
Bản dịch chắc chắn không tránh khỏi những sai sót. Kính mong chư thiện trí thức chỉ giáo.
Xin sám hối chư Phật, chư Tổ, bổn sư Thượng Tịch Hạ Chiếu, anh em bạn đạo và chưthiện trí thức về việc thêm sóng trên nước, vẽ hoa trong không nầy.
Thành phố Calgary, AB Canada
Mùa Thu 2010
Thị Giới.
(Sửa lần 1: Tháng 12 năm 2016.)

GƯƠNG THIỀN(Thiền Gia Quy Giám)

(1)
Có một vật sáng sủa ẩn mật, từ vô thủy đến nay chưa từng sanh, chưa từng diệt, gọi tên không được, diễn tả không được.
Một vật đó là vật gì?
Người xưa có bài tụng:
Khi Cổ Phật chưa sanh
Một vật đã toàn nên
Thích Ca cũng không hiểu
Ca Diếp lấy gì truyền?
(Cổ Phật vị sanh tiền
Ngưng nhiên nhất tướng viên
Thích Ca do vị hội
Ca Diếp khởi năng truyền?)
Vật đó không sanh, không diệt, gọi tên không được, diễn tả không đuợc.
Lục Tổ dạy chúng: “Ta có một vật không tên không tướng, có ai biết là vật gì?” (1)Thiền sư Thần Hội liền trả lời: “Nguồn gốc chư Phật, Phật Tánh của Thần Hội.” (2) Do đó Thần Hội chỉ là con giòng thứ của Lục Tổ (không được truyền tâm ấn).
Thiền sư Hoài Nhượng từ Tung Sơn đến, Lục Tổ hỏi: “Vật gì từ đâu đến?” (3) Sư khôngtrả lời được. Đến tám năm sau mới trả lời:  “Nói giống một vật là không trúng.” (4)  Do đó Hoài Nhượng trở thành con giòng chính của Tổ.
Thánh nhân Tam Giáo
Ra từ câu nầy
Ai muốn tỏ bày
Lông mày rụng sạch.
(Tam giáo Thánh nhân
Tòng thử cú xuất
Thùy thị cử giả
Tích thủ mi mao.)
(2)
Phật, Tổ xuất hiện trong đời, không gió nổi sóng.
Phật, Tổ tức Thế Tôn và Ca Diếp. Các ngài xuất hiện trong đời vì tâm đại bi cứu độchúng sanh.
Nói về một vật thì đó là khuôn mặt xưa nay người người đều trọn đủ, sao lại mượn bột phấn mà trét thêm vào? Do đó, sự xuất thế của Phật, Tổ giống như không có gió mà sóng khởi lên. Kinh Hư Không Tạng nói: “Chữ nghĩa là nghiệp ma, danh tướng lànghiệp ma, cho đến lời Phật cũng là nghiệp ma.” (1)
Ý muốn nói: Tự mình làm tròn, Phật, Tổ không dính dáng.
Đất trời trở tối
Mặt trời mặt trăng không ánh sáng.
(Kiền khôn thất sắc
Nhật nguyệt vô quang.)
(3)
Pháp có nhiều nghĩa, người có nhiều căn cơ, do đó ứng dụng không ngại.
Pháp là Một Vật, người là chúng sanh (do các duyên sinh ra).  Pháp có nghĩa theo duyên mà không biến đổi, người thì có khả năng nhanh chậm khác nhau. Do đó không ngại áp dụng nhiều phương tiện ngữ ngôn, như câu: “Quan không dung tội gian lận một cây kim nhưng tư thông cả xe.” (1)
Chúng sanh tuy đã viên thành nhưng không mở mắt tuệ nên chịu sự luân chuyển(trong sáu đường). Do đó, nếu không dùng kiếm xuất thế (kiếm trí tuệ), làm sao gọt sạch lớp vỏ dày vô minh? Vượt biển khổ để đi đến bờ vui đều nhờ ân đức đại bi (của Phật, Tổ), dùng vô số thân mệnh như cát sông Hằng cũng khó báo đền.
Trên đây là nói ân sâu của Phật, Tổ đối với chúng ta.
Vua lên điện báu
Già quê hát ca.
(Vương đăng bảo điện,  
Dã lão âu ca.)
(4)
Tạm lập các tên gọi, hoặc Tâm hoặc Phật hoặc chúng sanh, nhưng không nên bám vào danh tự mà hiểu. Thể thật ngay đó, khởi niệm liền sai.
Một Vật tạm lập ba tên gọi, Hiển giáo bất đắc dĩ lập ra. Thiền dạy không nên bám vào tên gọi mà hiểu.
Nâng lên, hạ xuống, tạo ra, phá đi, đều là hành động tự tại của đấng Pháp Vương.
Ở trên là nói về các phương tiện của chư Phật, Tổ.
Nắng lâu gặp mưa tốt
Phương xa gặp người xưa.
(Cửu hạn phùng giai vũ 
Tha hương kiến cố nhân)
(5)
Thế Tôn ba lần truyền Tâm lập nên tông chỉ Thiền (1). Những lời dạy suốt đờicủa Phật lập nên Giáo. Vì vậy nói rằng Thiền là Tâm của Phật, Giáo là Lời của Phật.
Ba lần đó là: lần thứ nhất tại tháp Đa Tử khi Đức Phật chia chỗ ngồi cho Ma Ha Ca Diếp, lần thứ hai tại Pháp hội Linh Sơn đưa cành hoa, lần thứ ba dưới hai cây sa lađưa chân ra ngoài quan tài. Đó là truyền riêng cho ngài Ca Diếp ngọn đèn Thiền.
Trong bốn mươi chín năm, Phật thuyết gồm Năm Giáo. Thứ nhất là Nhân Thiên giáo, thứ hai là Tiểu Thừa giáo, thứ ba là Đại Thừa giáo, thứ tư là Đốn giáo, thứ năm là Viên giáo. Ngài A Nan lưu thông biển Kinh Giáo nầy.
Khởi đầu của Thiền và Giáo là đức Thế Tôn. Phân ra Thiền và Giáo là Ca Diếp và A Nan.
Lấy không lời để tỏ bày cái không lời là Thiền. Lấy có lời để tỏ bày cái không lời là Giáo. Tâm là phương pháp của Thiền, Lời là phương pháp của Giáo. Do đó Pháp tuy một vị, sự nhận biết thì cách nhau như trời với đất.
Trên đây là nói về hai con đường Thiền và Giáo.
Đừng nên buông thả
Sinh thân bò trường.
(Bất đắc phóng quá
Thảo lí hoành thân.)
(6)
Do đó nếu chỉ theo lời thì việc đưa hoa mỉm cười (niêm hoa vi tiếu) cũng chỉ là dấu vết của Giáo. Từ Tâm mà được thì lời dỡ lời hay của thế gian đều là Thiền truyền riêng ngoài giáo.
Pháp không có tên nên lời không đến được, Pháp không hình tướng nên tâm khôngđến được. Khi vừa nói ra liền đánh mất tâm vương nguyên thủy. Mất tâm vươngnguyên thủy thì việc Thế Tôn đưa cành hoa ngài Ca Diếp mỉm cười cũng rơi vào lời phô, rốt cuộc rỗng không.
Đạt được bằng Tâm thì không những lời nói khoe khoan ngạo mạn cũng nói lên Pháp yếu, cho đến tiếng chim kêu cũng nói lên Thật Tướng. Do đó, Thiền sư Bảo Tích (1) nghe tiếng khóc giác ngộ vui mừng, Thiền sư Bảo Thọ (2) thấy đánh nhau liền nhận rõdiện mục.
Trên là làm rõ sự sâu cạn của Thiền, Giáo.
Ngọc sáng trên tay
Mân mê lui tới.
(Minh châu tại thủ
Lộng khứ lộng lai.)
(7)
Ta có một lời:
Dứt nghĩ quên duyên
Tự nhiên vô sự
Xuân về cỏ xanh.
(Ngô hữu nhất ngôn
Tuyệt lự vong duyên 
Ngột nhiên vô sự tọa
Xuân lai thảo tự thanh.)
Dứt nghĩ quên duyên đạt được Tâm, gọi là nhàn đạo nhân (đạo nhân không còn gì phảithực hành). Thật là tuyệt. Xưa nay không vướng bận, xưa nay đều vô sự. Khi đói thì ăn, khi buồn ngủ thì ngủ. Nước biếc núi xanh tùy ý tiêu diêu, thôn chài hang rượu tự tại an giấc. Năm tháng trôi qua không cần biết, Xuân đến như xưa cỏ tự xanh.
Trên nói về nhất niệm hồi quang (niệm khởi liền biết).
Toan bảo không ai
Lại có một người.
(Tương vị vô nhân
Lại hữu nhất cá.)
(8)
Giáo môn chỉ truyền pháp môn Nhất Tâm. Thiền môn chỉ truyền pháp môn Kiến Tánh.
Tâm như thể của gương, Tánh như ánh sáng của gương. Tánh tự trong sạch. Ngay lập tức trở lại tâm nguyên thủy.
Ở đây nhấn mạnh về nhất niệm.
Trùng trùng núi cùng nước
Nếp nhà cũ sạch làu.
(Trùng trùng sơn dữ thủy
Thanh bạch cựu gia phong.)
Bình:
Tâm có hai loại: Tâm bổn nguyên và tâm vô minh chấp tướng. Tánh có hai loại: Pháp Tánh bổn nguyên và tánh đối lại tướng. Do đó cả Thiền và Giáo đều mê khi dựa vàodanh để hiểu, hoặc lấý cạn làm sâu, hoặc lấý sâu làm cạn. Tất cả đều là bệnh lớn trong cái thấy và việc làm, do đó cần nói rõ.
(9)
Chư Phật nói Kinh, trước phân biệt các pháp, sau nói về tánh Không cứu cánh.  Sự khai mở của Tổ Sư không để dấu vết trên đất ý niệm, chân lý bày rõ ở nguồn Tâm.
Chư Phật là nơi nương tựa cho vạn đời nên theo cách có thể truyền đạt. Tổ Sư độ thoát tức thời, do đó trao truyền bí mật. Dấu vết: lời của Tổ Sư gọi là dấu vết. Ý: sự suy nghĩ của người học.
Bày tỏ loạn cuồng
Tay không cong ngược.
(Hồ loạn chỉ chú
Tí bất ngoại khúc)
(10)
Cách chư Phật dạy như cây cung, cách Tổ Sư dạy như dây cung.  Phật nói các pháp vô ngại quy về một vị. Chạm vào dấu vết Một Vị đó, liền hiện Nhất Tâm màTổ Sư tỏ bày. Do đó nói: thoại đầu “cây tùng trước sân” không tìm thấy trong hang rồng (nơi giữ Kinh).(1)
Nói cung là cong, nói dây là thẳng. Kho Rồng là nơi chứa Kinh ở Long cung. Vị Tăng hỏi ngài Triệu Châu: (2) “Ý của Tổ Sư từ Tây qua là gì?” Ngài Triệu Châu đáp: “Cây tùng trước sân.” Cho nên nói tông chỉ của Thiền ở ngoài khuôn mẫu.
Cá lội đục nước
Chim bay rụng lông.
(Ngư hành thủy trọc
Điểu phi mao lạc)
(11)
Do đó, người học trước tiên học hiểu giáo lý như thật của Phật, phân biệt rõ ràng hai chân lý bất biến và tùy duyên, là Tánh và Tướng của Tự Tâm. Cả hai môn đốn ngộ và tiệm tu đều là khởi đầu và chung cùng của việc tu tập. Sau đó mới bỏ giáo nghĩa, nơi nhất niệm hiện tiền của Tự Tâm mà tham, cuối cùng tất sẽ có kết quả, đó là thoát thân vào con đường sống.
Người trí tuệ căn cơ lớn không cần phải ở trong giới hạn đó. Người căn cơ trung và thấp không thể vượt qua giới hạn đó.
Hiển Giáo dạy bất biến mà tùy duyên, đốn ngộ và tiệm tu có trước có sau. Với Thiền,trong một niệm bất biến tùy duyên, Tánh và Tướng, Thể và Dụng vốn cùng một lúc. Vì vậy rời có rời không.
Do đó các vị Tổ Sư rời lời nói mà chỉ thẳng, một niệm thấy Tánh thành Phật. Đó làbuông bỏ giáo nghĩa.
Ngày sáng rỡ ràng
Mây ẩn hố sâu.
Từ nơi sâu kín
Trời chiếu tạnh không.
(Minh lịch lịch thời
Vân tàng thâm cốc
Thâm mật mật xứ
Nhật chiếu tình không.)
(12)
Người tu Thiền nên tham cứu câu sống (hoạt cú), không nên tham cứu câu chết (tử cú).(1)
Từ nơi hoạt cú mà được thì trở thành bậc ngang hàng với Phật, Tổ. Chạy theo tử cú thì tự cứu cũng không xong.
Do đó chỉ từ hoạt cú mới có hy vọng tự ngộ nhập.
Muốn gặp Lâm Tế (2)
Nên là người sắt.
(Yếu kiến Lâm Tể
Tu thị thiết hán.)
Bình:
Thoại đầu có hai cửa vào: tham cứu thoại đầu theo con đường trực chỉ gọi là hoạt cú (câu sống), không theo ý niệm, không nương vào lời, không có gì để nắm giữ. Tham cứu thoại đầu bằng ý niệm là thực hành giáo lý viên đốn bằng cách bám vào tử cú (câu chết), còn lý luận, còn ngôn ngữ, còn hiểu biết bằng tư tưởng, ý niệm.
(13)
Tham cứu công án phải với tâm khẩn thiết, như gà ấp trứng, như mèo rình chuột, như đói muốn ăn, như khát muốn uống, như con thơ nhớ mẹ, tất sẽ có lúc thấu triệt.
Công án của Tổ Sư có một nghìn bảy trăm tắc. Như các công án: “Con chó không cóPhật tánh;” (1) “Cây tùng trước sân;” “Ba cân gai;” (2) “Que dính cứt khô” v.v…  Gà ấp trứng: khí ấm của trứng được giữ liên tục không dứt. Mèo rình chuột: tâm và mắt không động. Cho đến đói nghĩ đến ăn, khát nghĩ đến uống, trẻ thơ nhớ mẹ. Tất cả những thứ đó đều phát ra từ tâm chân thật, không phải từ tâm hời hợt. Cho nên nói là khẩn thiết.Tham Thiền không có tâm khẩn thiết mà có thể thấu triệt thì không thể có.
(14)
Tham Thiền cần hội đủ ba điều quan trọng: thứ nhứt là có Lòng Tin lớn, thứ hai là có Lòng Mong Cầu lớn, thứ ba là có Tâm Nghi lớn. Nếu thiếu một trong ba điều đó thì giống như chiếc đỉnh gãy chân, trở thành vật vô dụng.
Phật dạy: “Muốn thành Phật, đức tin là căn bản.” Ngài Vĩnh Gia nói (1): “Người tu đạotrước tiên lập chí.” Ngài Mông Sơn (2) nói: “Người tham Thiền không phát khởi Nghi Tình là bịnh nặng.” (3) Lại nói: “Nghi lớn tất sẽ có ngộ lớn.” (4)
(15)
Hằng ngày theo duyên chỉ cử câu thoại đầu “Con chó không có Phật Tánh.” Cử tới cử lui, nghi tới nghi lui. Khi giác ngộ rồi thì không còn lý lẽ, không còn khái niệm, không còn ham thích món ăn ngon. Đó là lúc rũ bỏ thân và mệnh. Cũng là nền tảng để thành Phật, làm Tổ.
Một vị Tăng hỏi Triệu Châu: “Con chó có Phật Tánh hay không?” (1) Ngài Triệu Châuđáp: “Không.” (2) Một chữ nầy là cổng vào Tông môn. Nó cũng là dụng cụ phá hủy vô số hiểu biết sai lầm. Cũng là mặt mũi của chư Phật, cũng là cốt tủy của chư Tổ. Qua được cổng nầy sau đó mới có thể thành Phật, thành Tổ.
Người xưa có bài tụng:
Kiếm bén của Triệu Châu
Sáng lánh như sương băng
Suy nghĩ hỏi thế nào
Cắt thân làm hai khúc.
(Triệu Châu lộ nhận kiếm
Hàn sương quang diễm diễm
Nghĩ nghị vấn như hà
Phân thân tác lưỡng đoạn.)
(16)
Khi cử thoại đầu không nên tìm ra giải đáp hợp lý, cũng không nên dùng tư tưởng suy nghĩ, cũng không từ mê trông chờ giác ngộ. Đến lúc ý không còn chỗ để suy nghĩ, tâm không còn chỗ để bước vào, giống như con chuột già lọt vào chiếc bẫy sừng trâu, lùi không được, tiến không được. Thật là vô minh khi toan tính tìm kiếm, luân lưu trong sinh tử, trong sư sợ hãi kinh hoàng. Người đời nay không biết đó là bịnh, không ngừng ra vào trong đó.
Thoại đầu có mười thứ bịnh: dùng ý niệm để suy lường, dương mày nháy mắt (bắt chước Thầy), dùng ngôn ngữ để nắm bắt, tìm bằng chứng trong văn tự, bắt chước sựbiểu lộ lấy làm của mình, rơi vào chấp không xả bỏ mọi thứ, phân biệt có không, rơi vàotuyệt đối không, rơi vào lý lẽ, khởi tâm mong cầu giác ngộ.
Rũ bỏ mười căn bịnh nầy, khi cử thoại đầu giữ tinh thần phấn chấn, giữ chắc Tâm Nghi (Nghi Tình), nhắm thẳng vào câu hỏi “cái đó là gì?” (1)
(17)
Giống như muỗi chích vào trâu sắt, không thắc mắc làm cách này hay cách kia, cứ cắm vòi vào chỗ không thể cắm bất kể thân mệnh, toàn thể thân mệnh thấu nhập trong đó.
Đây là nói lại ý trên, khiến cho người tham cứu hoạt cú (câu sống) không lùi bước. Một vị Thầy ngày xưa nói: “Tham thiền nên tận ngõ Tổ Sư, diệu ngộ cốt đến chỗ hết đường tâm ý.” (1)
(18)
Tu tập giống như điều chỉnh dây đàn, căng giản để được chỗ quân bình. Cần mẫn thì gần với chấp trước, xao lãng thì rơi vào vô minh. Chỉ nên giữ tịch tịnhsáng láng, tiếp nối không dừng.
Người chơi đàn nói: Giản căng được quân bình thì tiếng đàn sẽ hay. Việc tu tập cũng như vậy. Căng thẳng thì làm động máu huyết (bị kích thích quá đáng), lơ là thì rơi vào hang quỉ (lu mờ). Không chậm không nhanh, khéo léo ở chỗ giữa.
(19)
Khi công phu đến chỗ đi không biết là đi, ngồi không biết là ngồi, khi đó bốn vạn tám ngàn thiên ma nơi sáu căn theo tâm mà sanh. Tâm nếu không khởi, nương đâu mà sanh!
Ma là tên loài quỉ ưa vui sinh tử. Tám vạn bốn ngàn ma quân là tám vạn bốn ngàn phiền não của chúng sanh. Ma vốn không có loài, người tu hành đánh mất chánh niệm lànguyên do sinh ra ma. Chúng sanh nương theo cảnh nên ở trong ma cảnh. Người tu đạo không theo cảnh nên nghịch với ma. Vì vậy nói rằng: Đạo cao ma thịnh.
Trong  thiền định hoặc thấy người con hiếu (người đưa tang) đẵn vào đùi, hoặc thấy heo kéo mũi (1), cũng là do từ trong tâm khởi lên mà thấy cảnh ma bên ngoài. Tâm nếu không khởi thì bao nhiêu tài nghệ của ma quân cũng trở thành như chém dao vào nước, như xua đuổi ánh sáng. Người xưa nói: “Lỗ hổng trên vách khiến có gió động, lỗ hổng trong tâm khiến ma lọt vào.” (2)
(20)
Khởi tâm là thiên ma, không khởi tâm là ấm ma (ngũ ấm ma), vừa khởi vừa không khởi là phiền não ma. Trong Chánh Pháp vốn không có việc như vậy.
Vô tâm là Phật Đạo, phân biệt là cảnh giới ma. Do đó cảnh ma giống như chuyệnchiêm bao, cần gì phải tốn sức luận bàn?
(21)
Công phu khi đã gom thành một khối, nếu đời nầy không thấu đạt, đến lúc nhắm mắt cũng không bị ác nghiệp dẫn đi.
Nghiệp tức là vô minh. Thiền là Bát nhã (Trí Tuệ). Sáng và tối không cùng hiện hữu là lýtự nhiên.
(22)
Người tu Thiền nên luôn tự hỏi: Có biết đến bốn ân sâu dày chăng? Có biết rằng thân thể dơ dáy do bốn đại hợp thành đang suy hoại trong từng niệm niệmchăng? Có biết rằng sinh mệnh con người tùy thuộc vào hơi thở chăng? Sanh ra có được gặp Phật, Tổ chăng? Khi nghe Pháp Vô Thượng có sinh tâm khó gặp chăng? Không rời Tăng đường để giữ hạnh trong sạch chăng? Không cùng người chuyện trò tạp nhạp chăng? Có hay bàn chuyện thị phi chăng? Thoại đầucó được rõ ràng không lu mờ liên tục trong mọi lúc chăng? Khi nói chuyện cùng người, thoại đầu có không bị gián đoạn chăng? Khi thấy nghe nhận biết, thoại đầu có gom thành một khối chăng? Sự quán chiếu có bắt được và đánh bại Phật, Tổ chăng? Đời nầy có quyết định tiếp nối tuệ mênh của Phật chăng? Khi đứng ngồi thoải mái có nghĩ đến nỗi khổ địa ngục chăng? Có quyết định thoát khỏi luân hồi trong một báo thân nầy chăng? Đối với cảnh tám ngọn gió (1), tâm có không động chăng?
Đó là những điều quan trọng mà người tu Thiền phải quán sát hằng ngày. Người xưa nói:
Thân nầy không quyết đời nầy độ
Đợi đến đời nào độ thoát thân?
(Thử thân bất hướng kim sanh độ,
Cánh đãi hà sanh độ thử thân.)
Bốn ân là ân cha mẹ, ân nước nhà, ân thầy dạy và ân thí chủ. Thân tứ đại dơ nhớp: tinh cha hòa với huyết mẹ tạo chất ướt (thủy đại); tinh cha tạo ra xương, huyết mẹ tạo ra da là chất cứng (địa đại); một khối tinh huyết không hư không hủy là hơi ấm của chất nóng (hỏa đại); lỗ mũi trước tiên được sinh ra để hơi thở ra vào thuộc sự động của gió (phong đại).
Ngài A Nan nói: “Khí ham muốn thô dơ hôi tanh gặp nhau sinh ra thân dơ nhớp.” (2)
Thân thể suy mục từng giây, thời gian trôi đi không ngừng, da mặt nhăn nheo, tóc trở nên trắng. Bây giờ không giống như xưa, về sau không giống bây giờ. Đó là thể của vô thường. Quỉ vô thường lấy sát hại làm vui. Thật là mỗi phút giây đều đáng sợ. Hơi thởra là lửa, hơi thở vào là gió. Thân mệnh con người chỉ tùy thuộc vào hơi thở ra vào. Tám gió là các cảnh thuận, nghịch trong đời sống. Khổ địa ngục: một ngày một đêm ởđịa ngục dài bằng sáu mươi kiếp ở nhân gian, nấu trong nước sôi, đốt trong lò lửa, thảy vào rừng kiếm, núi dao, không thể nào diễn tả hết được.
Thân người khó được giống như tìm kim trong biển. Cảnh đáng xót thương đó khá nêncảnh tỉnh.
Bình:
Những lời Pháp ở trên giống như người uống nước nóng lạnh tự biết. Dù thông minhcũng không thể chống lại nghiệp. Huệ khô (càn huệ: trí thông minh bằng khái niệm) không giúp thoát khỏi vòng khổ đau. Quí vị nên suy xét, đừng tự nên tự mãn.
(23)
Người học theo chữ nghĩa, khi nói thì giống như đã giác ngộ, nhưng khi đối diện với sự việc hằng ngày thì trở lại mê mờ. Đó là lời nói và hành động trái nhau.
Ở đây triển khai ý tự mãn đề cập ở trên. Lời nói và hành động khác nhau, có thể phân biệt thật, giả.
(24)
Muốn chiến thắng sanh tử, phải từ nơi nhất niệm phá thủng để thấu suốt đượcsinh tử.
Thùng sơn bị phá vỡ phát ra tiếng. Khi phá vỡ thùng sơn thì sanh tử mới có thể đương đầu. Nhân địa tu hành của chư Phật cũng chỉ như vậy.
(25)
Sau khi một niệm được phá thủng, nên cầu minh sư chứng minh chánh nhãn (cái thấy đúng).
Việc nầy không phải dễ dàng. Cần phải có tâm rất khiêm tốn với cái thấy đầu tiên. Đạo giống như biển lớn, càng vào càng sâu. Cẩn thận đừng lấy chút ít cho là đủ. Sau khi ngộ nếu không tìm thầy chứng minh thì vị ngon ngọt của đề hồ sẽ trở thành thuốc độc.
(26)
Người xưa nói: “Chỉ trọng cái thấy đúng, không trọng cách hành xử.”
Xưa Ngưỡng Sơn khi được thầy là Quy Sơn (1) hỏi, đáp: “Kinh Niết Bàn bốn mươi quyển thảy đều là ma thuyết. Đó là cái thấy chân chánh của Ngưỡng Sơn.” (2) Ngưỡng Sơn lại hỏi về sự hành xử, Quy Sơn đáp: “Chỉ trọng thấy đúng.” (3) Do đó, trước tiênphải có cái thấy đúng, sau đó mới nói đến cách hành xử. Do đó nói: “Nếu muốn tu hành, trước cần đốn ngộ.” (4)
(27)
Nguyện chư vị tu đạo tin sâu Tâm mình, không tự hạ, không tự cao.
Tâm nầy bình đẳng, vốn không phàm,  thánh. Nhưng người có mê ngộ khác nhau nên gọi là phàm, thánh.  Nhờ Thầy chỉ dạy liền ngộ cái ngã chân thật thì cùng với chư Phật không khác gọi là đốn (ngộ tức thì.) Do đó không tự hạ. Như nói: “Xưa nay không một vật.”
Do ngộ mà dứt trừ các thói quen xấu, chuyển từ phàm sang thánh, đó là tiệm tu (tu từ từ). Do đó không tự cao. Như nói: “Giờ giờ thường lau chùi.” Tự hạ là bịnh của người học theo Giáo, tự cao là bịnh của người tu Thiền. Người tu theo Giáo không tin bí quyếtngộ nhập của nhà Thiền, chìm sâu trong giáo pháp phương tiện, chấp có thật giả, không tu thiền quán để khám phá ra châu báu nơi chính mình. Do đó sanh tâm yếukém.
Người học Thiền thì không tin vào Kinh giáo, do đó không tin kinh điển dạy về sự tiệm tuvà giảm trừ tập khí, nhiễm tập khởi lên mà không hổ thẹn, quả mới ở bước đầu mà đã sinh nhiều kiêu mạn, lời nói ngạo nghễ.
Do đó, người tu hành đúng đắn không tự hạ, không tự cao.
Bình:
Nơi sơ tâm, nhân gồm đủ trong quả, chỉ tin vào một vị (tự tánh), không tự hạ không tự cao.  Các vị Bồ tát đạt được quả bằng sự tu tập trãi qua năm mươi lăm từng bậc.
(28)
Dùng tâm mê tu chỉ giúp cho vô minh.
Chưa tỏ ngộ làm sao nói được là tu hành chân thật! Giác ngô và tiệm tu như dầu và ánh sáng (lửa) tương quan nhau, mắt và chân nương tựa nhau.
(29)
Nền tảng của sự tu hành chỉ là chấm dứt ý niệm phàm tình, không phải đi tìm sựhiểu biết của bậc thánh.
Bịnh hết thì không còn cần thuốc. Chỉ cần trở lại con người xưa kia.
(30)
Không từ bỏ tâm chúng sanh, chỉ đừng làm nhiễm ô tự tánh. Cầu Chánh pháp là tà.
Từ bỏ hay tìm cầu đều là nhiễm ô.
(31)
Dứt trừ phiền não là Nhị Thừa. Phiền não không sanh là Đại Niết bàn.
Dứt trừ thì có chủ (năng) có khách (sở).  Không sanh thì không chủ không khách.
(32)
Quán chiếu chỗ rỗng rang nơi tâm, tin rằng một niệm khởi lên là do duyên khởi, vốn không có sanh.
Đây là nói làm sao thấy rõ tự tánh.
(33)
Quán sát rõ ràng thì thấy rằng trộm cắp, tà dâm, nói dối đều từ tâm mà ra. Tâm vốn tịch lặng có gì phải dứt trừ!
Nói rõ sự tương quan giữa tánh và tướng.
Bình:
Kinh nói: “Một niệm không khởi gọi là đoạn trừ vô minh.” (1) Lại nói: “Niệm khởi liền biết.” (2)
(34)
Biết huyễn tức lìa, không cần phương tiện. Lìa huyễn tức giác, không có trước sau.
Tâm là thầy huyễn, thân là thành huyễn, ngoại cảnh là áo huyễn, danh tướng là thức ănhuyễn. Cho đến tâm khởi lên một ý niệm, nói chân nói vọng, đều không ra ngoài huyễn.
Những cái huyễn vô minh vô thủy nầy đều sanh ra từ tâm giác ngộ, giống như hoa đốmsinh ra trong hư không. Khi huyễn không còn thì gọi là bất động. Trong mơ thấy có mụt thì cầu thuốc, thức ra thì không còn bịnh. Biết huyễn cũng giống như vậy.
(35)
Chúng sanh ở trong chỗ không sanh lầm thấy có sinh tử và niết bàn, giống như thấy hoa đốm sinh ra và biến mất trong hư không.
Tánh vốn không sanh nên không có sanh và diệt. Không trung vốn không có hoa nên không có sinh ra và biến mất. Khởi vốn thật sự là không khởi, diệt vốn thật sự là không diệt. Hai cái thấy nầy không cần phải luận bàn. Kinh Tư Ích nói: “Chư Phật ra đời không phải để độ chúng sanh, chỉ muốn độ hai cái thấy sinh tử và Niết bàn.” (1)
(36)
Bồ Tát độ chúng sanh vào cảnh giới tịch diệt (niết bàn), nhưng thật không cóchúng sanh nào được diệt độ.
Bồ Tát lúc nào cũng vì chúng sanh. Biết thể của niệm là không mà độ chúng sanh. Niệm vốn rỗng lặng thật không có chúng sanh nào được diệt độ. Đây là nói về tin và hiểu (tín giải).
(37)
Lý có thể đốn ngộ (ngộ ngay) nhưng sự thì không thể đốn trừ (trừ ngay).
Văn Thù thấu pháp tánh (tánh thật của vạn pháp), Phổ Hiển rõ duyên khởi. Thấu hiểu nhanh như điện chớp, tu giống như kẻ cùng tử (người nghèo khổ). Ở đây luận về tu và chứng.
(38)
Tu Thiền mà còn tà dâm như nấu cát để được cơm, tu Thiền mà còn giết hại như bịt tai mà cầu tiếng, tu Thiền mà còn trộm cắp như rò chảy mà cầu đầy, tu Thiền mà còn nói dối như lấy phẩn làm chất thơm. Dù được trí tuệ cũng thànhma đạo.
Đây là nói rõ về khưôn phép tu hành Tam Vô Lậu Học.  Tiểu Thừa lấy pháp (hình tướngbên ngoài) làm giới, chữa thô nơi ngọn. Đại Thừa lấy nhiếp tâm làm giới, khéo trừ tận gốc.
Lấy pháp làm giới thì không phạm nơi thân, nhiếp tâm làm giới thì không phạm trong ý.Tà dâm thì dứt sự thanh tịnh, giết hại thì dứt tâm từ bi, trộm cắp thì dứt phước đức, nói dối thì dứt chân thật. Dù có đạt được trí tuệ, chứng được sáu thần thông, nếu khôngdứt trừ gíết hại, trộm cắp, tà dâm, nói dối thì cũng sẽ rơi vào đường ma, vĩnh viễn mấtcon đường Bồ đề chân chính.
Bốn giới nầy là căn bản của trăm giới, nói rõ ở đây để khỏi nghĩ và phạm. Không nhớ gọi là Giới, không nghĩ gọi là Định, không lầm lẫn gọi là Tuệ.
Giới để bắt giặc, Định để trói giặc, Huệ để giết giặc. Giới giữ vững, Định lắng trong thìmặt trăng Trí Tuệ xuất hiện.
Ba Môn Học nầy chính là nguồn gốc của vạn Pháp. Do đó nói rõ để tránh không bị rỉ chảy. Hội Linh Sơn lại có Phật khinh suất lời dạy của mình, núi Thiếu lâm lại có Tổ vọng ngữ sao?
(39)
Người không đức không theo giới luật của Phật, không giữ gìn ba nghiệp,buông lung lười biếng, coi thường người khác, coi nhẹ phải trái.
Một khi phá giới dù phá ở trong tâm thì trăm lỗi lầm liền sanh.
Bình:
Thời mạt pháp các thứ ma thịnh hành làm loạn Chánh Pháp.
(40)
Người học nên rõ: nếu không giữ giới, tái sanh làm thân dã can ghẻ còn khó thay huống là chứng quả Bồ đề thanh tịnh!
Trọng giới giống như trọng Phật thì Phật thường hiện tiền. Nên bắt chước vị tăng bị trói vào cỏ (1) và vị tăng thấy ngỗng nuốt châu (2).
(41)
Muốn thoát sinh tử trước phải dứt trừ tham muốn và khát ái.
Ái là gốc của luân hồi, tham muốn là duyên của thọ sanh. Phật dạy: “Tâm dâm không trừ thì không thể ra khỏi thế gian.” (1) Lại dạy: “Sự trói buộc vào ân ái đưa con ngườivào cửa tội lỗi.” (2) Sự ham muốn tình ái rất gắn bó với con người.
(42)
Trí tuệ thanh tịnh không ngăn ngại đều từ thiền định mà ra.
Vượt phàm vào thánh, giải thoát trong khi ngồi, chết trong lúc đứng đều do sức củathiền định. Cho nên nói: “Muốn cầu Thánh Đạo, không đi con đường nầy thì không còn đường nào khác.” (1)
(43)
Tâm định thì biết được các tướng sinh diệt của thế gian.
Ánh sáng qua lỗ hổng, bụi nhỏ lăng tăng
Đáy nước dưới ao trong, ảnh chiếu rõ ràng.
(Hư khích nhật quang tiêm ai nhiễu nhiễu.
Thanh đàm thủy để ảnh tượng chiêu chiêu.)
(44)
Thấy cảnh tâm không khởi gọi là không sanh. Không sanh là vô niệm. Vô niệm làgiải thoát.
Giới Định Tuệ nếu được một liền đủ cả ba, không phải riêng lẻ.
(45)
Tu đạo mà có chỗ chứng thì không phải là chân thật. Tâm và pháp vốn rỗng lặng là tịch diệt chân thật (niết bàn chân thật). Do đó nói rằng: “Các pháp xưa nayvốn tướng tịch diệt.”
Mắt không thể tự thấy, thấy mắt tức là dối. Do đó Văn Thù suy lường, Tịnh Danh không nói.
(46)
Sau đây nói về tế hạnh:
Người nghèo đến xin tùy thuận ban cho. Tâm đại bi thấy mình và người là một là sự ban cho chân thật.
Thấy mình và người là một gọi là đồng thể. Đến tay không và ra đi tay không, đó là sự thật về cuộc đời của chúng ta.
(47)
Có người đến hại, giữ tâm không nóng giận. Một niệm nóng giận nổi lên thì vô số cửa chướng ngại mở ra.
Phiền não tuy nhiều vô số, nóng giận là nặng nhất. Kinh Niết Bàn dạy: “Được thoa hương hay bị tùng xẻo đều không động tâm.” (1) Lòng giận giống như lửa sét đánh trong mây lạnh.
(48)
Nếu không có hạnh nhẫn nhục, các hạnh khác đều không thành tựu.
Các hạnh tuy vô số, từ và nhẫn là nguồn cội. Tâm nhẫn giống như huyễn mộng thì cảnh nhục cũng giống như lông rùa.
(49)
Giữ gìn chân tâm là tinh tấn bậc nhất.
Nếu khởi tâm tinh tấn thì đó là dối không phải thật tinh tấn. Nên nói: “Đừng tưởng lầm đừng tưởng lầm.” (1)
Người giải đãi thường ngóng về tương lai, đó là người tự bỏ rơi mình.
(50)
Nói về trì chú:
Nghiệp tạo trong đời nầy dễ chế ngự nên có thể cố gắng để tự trừ, nghiệp tạo từ đời trước khó trừ nên phải nhờ thần lực.
Ma Đăng Già đắc quả là chuyện có thật. Do đó không trì thần chú mà xa rời được việc ma là chuyện khó có.
(51)
Lễ bái có ý nghĩa là cung kính và khuất phục: cung kính chân tính, khuất phục vô minh.
Thân miệng ý thanh tịnh thì Phật hiện ra trong thế gian nầy.
(52)
Nói về niệm Phật: Ở miệng gọi là tụng, ở tâm gọi là niệm. Tụng mà không niệm thì chỉ vô ích.
Pháp môn niệm sáu chữ A Di Đà Phật là con đường tắt ra khỏi luân hồi. Tâm nương vào cảnh giới Phật nhớ giữ không quên, miệng xưng danh hiệu rõ ràng không loạn, tâm và miệng tương ưng gọi là niệm Phật.
Bình:
Ngũ Tổ nói: “Giữ chân tâm hơn niệm chư Phật mười phuơng.” (1) Lục Tổ nói: “Thườngniệm Phật bên ngoài không khỏi được sanh tử, giữ bổn tâm thì đến bờ bên kia.” (2) Lại nói: “Phật từ trong Tánh, không nên huớng ra ngoài mà cầu.” (3) Lại nói: “Người mêniệm Phật cầu vãng sanh, người giác ngộ thì chỉ thanh tịnh tâm mình.” Lại nói: “Chúng sanh ngộ được tâm thì cứu được mình, Phật không cứu chúng sanh” (4) vân vân. Các bậc nói trên chỉ thẳng vào Tâm, không nương vào phương tiện. Lý thật là như vậy.
Tuy nhiên với Tích môn thì thật có Cực Lạc Thế Giới, Phật A Di Đà có bốn mươi tám nguyện lớn, niệm được mười tiếng nương vào nguyên lực đó được vãng sanh vào hoa sen, thoát khỏi luân hồi, chư Phật ba đời khác miệng cùng lời, các Bồ tát trong mười phương đều nguyện vãng sanh, huống chi chuyện ghi chép về những người đượcvãng sanh từ xưa đến nay thật rõ ràng. Xin các vị tu hành nên thận trọng đừng lầm lẫn.
Trong Phạn ngữ, A Di Đà có nghĩa là thọ mạng không cùng, cũng có nghĩa là ánh sáng không cùng, danh hiệu Phật cao quí bậc nhất trong mười phương ba đời. Nguyên do tỳ kheo Pháp Tạng, ở trước đức Phật Thế Tự Tại Vương phát bốn mươi tám nguyệnrằng: Khi tôi thành Phật, các loài trời người cho đến các loài bọ trên không côn trùngdưới nước, nếu niệm tên tôi mười niệm thì được sanh vào nước của tôi. Nếu khôngthành tựu nguyện nầy, tôi sẽ không thành Phật. Vân vân.
Chư Thánh ngày xưa nói: “Xướng danh hiệu Phật một tiếng, thiên ma vở mật, tên được xóa trong quỷ bộ, hoa sen mọc trong ao vàng (vãng sanh).” (5) Sám Pháp cũng nói: “Tự lực và tha lực, một chậm một mau. Muốn vượt qua biển, trồng cây để làm thuyền thì chậm, đó là tự lực, mượn thuyền vượt biển thì nhanh, đó là Phật lực.” (6)
Lại nói: “Trẻ con ở thế gian khi bị lửa nước bức bách cất tiếng kêu gào, cha mẹ nghe tiếng chạy nhanh đến cứu. Người đến giờ lâm chung cao tiếng niệm Phật thì Phật có đủ thần thông nhất định đến đón. Lòng từ bi của đức Đại Thánh hơn cả cha mẹ, sự khổsanh tử của chúng sanh nặng nề hơn nạn nước lửa.”
Có người nói: “Tự tâm là Tịnh độ, Tịnh độ không thể sanh. Tự Tánh là Di Đà, Di Đàkhông thể thấy.” Lời nói cũng có phần có lý, nhưng cũng không phải hoàn toàn đúng.Đức Phật (A Di Đà) thì không tham không sân, còn chúng ta có được không tham không sân chưa? Đức Phật biến địa ngục thành hoa sen dễ như trở bàn tay, cònchúng ta do nghiệp lực thường lo sợ đọa vào địa ngục, huống là biến thành hoa sen!Đức Phật nhìn thấy thế giới mười phương như ở trước mắt còn chúng ta thì việc bên kia vách cũng không biết, huống là nhìn thấy thế giới trong mười phương như ở trước mắt!
Do đó, mặc dù Tánh của mọi người đều là Phật, hành động của chúng ta là hành độngchúng sanh. Nói về tướng và dụng thì xa nhau như trời với đất. Ngài Khuê Phong (7) nói: “Đốn ngộ xong rồi thì tu theo tiệm hạnh.” (8) Lời nầy chân thật làm sao!
Giờ xin hỏi người nói rằng Tự Tánh là Di Đà: Đức Thích Ca sanh ra tự nhiên là A Di Đàchăng? Xin hãy suy nghĩ.
Há không tự biết rằng, khi giờ lâm chung đến, nơi biên giới đau khổ giữa sống và chết, có thể tự tại quyết định hay không? Nếu không được như vậy, đừng cống cao nhất thời, không suy nghĩ chín chắn, để bị đắm chìm nhiều kiếp.
Các ngài Mã Minh (9), Long Thọ (10) đều là Tổ Sư, cũng dạy rõ khuyên tu vãng sanh.Chúng ta vì sao lại không muốn vãng sanh? Đức Phật cũng lại nói: “Tây Phương cáchđây mười vạn thế giới và tám ngàn xứ sở.” Đó là đối với người căn chậm mà nói về tướng. Lại nói: “Tây Phương cách đây không xa, tức Tâm là Phật.” Đó là đối với ngườicăn tánh lanh lẹ mà nói về Tánh.
Giáo lý có quyền (phương tiện) và thật. Lời có hiển và mật. Nếu hiểu và hành tương ưng, xa gần đều thông. Do đó các bậc trong Thiền tông, hoặc khuyên niệm A Di Đà(như ngài Huệ Viễn (11)) hoặc dạy tìm Chủ Nhân Ông (như ngài Thụy Nham (12).)
(53)
Nghe Kinh tạo mối liên hệ giữa Kinh và tai (nhĩ căn), được hưởng phước vui. Thân huyễn có ngày mất, thực hành theo sự chân thật thì không mất.
Ở đây nói rõ sự học sáng suốt (trí học) giống như nuốt kim cương (1), hơn hẳn việc bố thí bảy món trân quí. Thọ Sư (2) nói: “Nghe mà không tin vẫn tạo được hạt giống Phật. Học mà không thành vẫn có ích được phước cõi trời, cõi người.” (3)
(54)
Xem Kinh nếu không hướng vào bên trong mà thực hành, dù xem hết vạn tạng cũng không ích gì.
Ở đây nói rõ sự học ngu muội (ngu học) giống như chim kêu trong ngày Xuân, côn trùng kêu trong đêm Thu (không có ý hướng). Mật Sư (1) nói: “Theo chữ nghĩa mà xem Kinh thì không chứng ngộ được. Nghiền ngẫm câu văn, tìm tòi ý nghĩa chỉ làm tăng thêm tham, sân và tà kiến.” (2)
(55)
Học chưa đến nơi, dùng lời hùng biện miệng lưỡi để khoe sự hiểu biết của mình giống như sơn vẽ nhà xí làm cho giống ngôi chùa.
Nói về sự học ngu si của thời mạt pháp. Học vốn để thấy Tánh, nhưng lại toàn lấy của người khác làm của mình.
(56)
Người xuất gia mà học ngoại điển giống như dùng dao chém bùn. Bùn không dùng được vào việc gì mà dao bị tổn hại.
Ngoài cửa con trưởng giả
Lại trở vào nhà lửa.
(Môn ngoại trưởng giả tử,
Hoàn nhập hỏa trạch trung)
(57)
Xuất gia làm Tăng lại là việc nhỏ sao? Không phải để cầu sự ẩn dật an nhàn, không phải để cầu lợi danh, nhưng là vì chuyện sinh tử, vì muốn cắt dứt phiền não, vì muốn tiếp nối tuệ mệnh của Phật, vì muốn ra khỏi ba cõi để độ chúng sanh.
Có thể nói là bậc đại trượng phu có chí khí ngất trời.
(58)
Phật dạy: “Lửa vô thường thiêu đốt thế gian.” Lại dạy: “Lửa khổ của chúng sanh bốn phương thiêu đốt.” Lại dạy: “Các giặc phiền não thường tìm dịp để hại người. Người tu đạo nên tự biết mà phòng ngừa, như cứu lửa cháy trên đầu.”
Thân có sanh già bịnh chết. Thế giới có thành trụ hoại không. Tâm thì có sanh trụ dị (biến đổi) diệt. Lửa khổ vô thường đó thiêu đốt bốn bề. Xin người tham cứu lẽ huyền đừng hao phí thời gian, tham danh rỗng của thế gian chỉ uổng công nhọc xác.
(59)
Mưu cầu thế lợi như chất thêm củi vào ngọn lửa nghiệp.
Về việc ham tiếng tăm hư ảo của thế gian, có thơ rằng:
Chim hồng bay lưu dấu chân trên cát
Người chết rồi để tiếng tại nhà.
(Hồng phi thiên mạt tích lưu sa
Nhân khứ hoàng tuyền danh tại gia.)
Về việc mưu cầu lợi lộc thế gian, có thơ rằng:
Sau khi lấy mật trăm hoa

Ai người nếm ngọt chẳng hay nhọc nhằn?

(Thải đắc bách hoa thành mật hậu
Bất tri tân khổ vi thùy điềm?)
Tốn công mệt xác, giống như sự khéo léo chạm trổ trên băng, chẳng có ích lợi gì. Thêm củi vào lửa nghiệp: Sắc hương thô lậu giống như dụng cụ chứa lửa.
(60)
Người mặc áo nhà tu mà mưu cầu danh lợi chẳng bằng người quê mùa áo vải.
Bỏ ngai vàng tìm vào núi tuyết, đó là phép tắc của các đức Thế Tôn. Trong đời mạt pháp, những người thực chất là dê mà đội lốt cọp không biết xấu hổ, đón gió theo thời, chìu nịnh để giữ được ân huệ. Ôi hạng người như vậy làm sao răn bảo!
Người có tâm nhiễm lợi lộc thế gian, dua nịnh theo người có quyền, chạy theo cát bụi ở đời, cả người thế tục cũng cho là đáng cười. Việc làm của người mặc áo nhà tu nầy cho thấy thực chất của họ.
(61)
Phật dạy: “Kẻ giặc trộm mặc y phục của ta, buôn bán Như Lai, tạo các thứ nghiệp.”
Thời mạt pháp, có nhiều danh từ để gọi các tỳ kheo (phạm lỗi): hoặc là con dơi, hoặc dê câm, hoặc cư sĩ ngốc, hoặc đồ nhơ nhớp trong địa ngục, hoặc giặc mặc cà sa. Đó là buôn bán Như Lai vậy.
Bình:
Bài bát nhơn quả, không tin tội phúc, thân và miệng sục sôi, không ngừng khởi tâmthương ghét, thật là đáng thương.
Không ra tăng không ra tục cho nên gọi là con dơi, lưỡi không thuyết Pháp gọi là dê câm, bề ngoài là tăng mà tâm thế gian nên gọi là cư sĩ ngốc, tội nặng không đổi nên gọi là đồ dơ trong địa nguc, buôn Phật để mưu sống nên gọi là giặc mặc cà sa. Nói chung là giặc mặc cà sa.
(62)
Người đệ tử Phật mặc một bộ y, ăn ngày một bữa, không coi thường máu huyết của nhà nông, sự khổ cực của người thợ dệt, nếu đạo nhãn chưa tỏ làm sao tiêu được.
Truyền Đăng (1): “Một đạo nhân đạo nhãn chưa tỏ, thân sinh làm nấm để trả lại cho tín thí.” (2)
(63)
Nên nói: “Muốn biết vì sao sinh làm loài mang lông đội sừng, đó là do ngày nay nhận không không từ tín thí.” Có người không đói mà ăn, không lạnh mà mặc, không biết họ nghĩ thế nào? Không biết rằng cái vui trước mắt sẽ là nỗi khổ về sau.
Trí Luận viết: “Một vị đạo sĩ vì phí phạm chỉ năm hạt gạo mà phải đầu thai làm thân trâu, sống thì đền bù bằng xương gân, chết thì trả bẳng da thịt.” Nhận không không từ tín thí,báo ứng nhanh như tiếng vang.
(64)
Thà dùng sắt nóng che thân, không nhận áo của người tín tâm. Thà rót đồng vào miệng, không nhận thức ăn của người tín tâm. Thà vào lò nấu sắt, không nhận chỗ ở của người tín tâm.
Kinh Phạm Võng nói: “Không dùng thân phá giới mà nhận các vật cúng dường và bố thícủa người tín tâm. Bồ Tát nếu không phát nguyện nầy tức bị tội khinh cấu.” (1)
(65)
Vì vậy nói rằng: “Người tu đạo nhận thực phẩm như nhận thuốc độc, nhận củaban cho như bị tên bắn. Xử tốt, lời ngọt là điều sợ hãi của người tu đạo.”
“Nhận thức ăn như nhận thuốc độc” là sợ mất đạo nhãn. “Nhận thí nhự bị tên bắn” là sợ mất đạo quả.
(66)
Cho nên nói rằng: “Người tu đạo giống như tảng đá mài dao. Trương Tam đến mài, Lý Tứ đến mài. Mài tới mài lui, dao của người thì trở nên bén, nhưng đá nhà dần mòn. Thế nhưng có người lại sợ không ai đến mài dao trên đá của mình, thật là đáng thương!
Người tu đạo như vậy suốt đời chỉ nhắm đến sự ấm thân no bụng.
(67)
Do đó người xưa có câu: “Nỗi khổ trong ba đường chưa đáng gọi là khổ. Người mặc áo cà sa khi mất thân người mới thật là khổ.”
Người xưa nói: “Đời nầy không được minh tâm, một giọt nước cũng khó tiêu.” (1) Đó làlý do người mặc áo cà sa bị mất thân người (sau khi chết.) Người Phật tử nên đem lòng phấn khích.
(68)
Thật đáng kinh sợ cho cái thân nầy. Chín lỗ thường chảy ra (những chất dơ), trăm ngàn loại ung nhọt mọc ra trên làn da mỏng. Lại nói: Túi da chứa đầy phẩn và máu mủ, dơ bẩn đáng gớm, không đáng yêu thích, huống lại trăm năm nuôi nấng, trong một hơi thở liền bỏ đi.
Các nghiệp đề cập từ trước đến đây đều do có thân nầy. Nhìn kỹ vào thân sẽ sợ hãikêu lên tiếng lớn, làm cho chúng ta cảnh tỉnh. Cội rễ của thân nầy là lòng yêu thích. Biết rõ sự hư dối thì lòng yêu thích sẽ được tiêu trừ. Nếu cứ mê giữ sẽ sinh ra vô số lỗi lầmân hận. Vì vậy tỏ rõ điều nầy để mở con mắt đạo.
Bình:
Bốn đại không sanh (sự kết hợp của đất nước gió lửa không có thật) nên gọi là bốn kẻ oán. Bốn đại không biết nhớ ơn nên gọi là bốn con rắn. Chúng ta vì không biết thân nầy là hư vọng nên nổi lòng sân si cao ngạo với người khác. Người khác cũng không biết thân nầy là hư vọng nên cũng sanh sân si ngạo mạn với ta. Việc đó cũng giống như hai con quỷ tranh giành xác chết. Thây chết là thân thể của chúng ta, tựa như bọt nước, như chiêm bao, đau khổ và dơ nhớp, dễ bị hư hoại lại rất xấu xa. Trên thì bảy lỗ thường chảy nước mắt nước mũi, dưới thì hai lỗ thường ra phẩn tiểu. Ngày đêm thường lo giữ thân sạch sẽ để tiếp xúc với người. Cơ thể không sạch thì thiện thần cũng tránh xa.
Kinh Nhân Quả nói: “Dùng tay không sạch mà cầm kinh điển, khạt nhổ trước tượng Phật sẽ chịu quả báo sinh làm loài trùng trong cầu tiêu.” (1) Kinh Văn Thù nói: “Khi đạitiểu tiện thì giữ thân tâm như cây như đá, không nói năng, không gây tiếng động, không vẽ viết trên tường, không khạt nhổ đàm trong nhà cầu. Đi cầu mà không rửa ráy sạch sẽ thì không được ngồi vào nệm thiền, không được vào điện thờ.” (2) Luật nói: “Khi vào nhà xí, trước tiên phài búng móng tay ba lần để làm cho loài quỷ sống trong chổ dơ nhớp biết, rồi niệm thầm các thần chú mỗi câu bảy lần…” (3)
(69)
Có tội thì sám hối, có lỗi thì hổ thẹn, đó là khí tượng của người trượng phu. Sửa đổi lỗi lầm tự làm mới mình, tội theo tâm mà tiêu diệt.
Sám hối tức ăn năn lỗi trước, nguyện chừa những sai lầm về sau. Tàm quý tức bên trong tự trách, bên ngoài hổ thẹn. Tâm vốn rỗng lặng, tội nghiệp không có chỗ nương.
(70)
Người tu đạo nên giữ tâm đoan chánh, lấy đơn giản và ngay thẳng làm nền tảng. Một bầu một áo, không bị trói buộc vào nơi trọ nghỉ.
Phật dạy: “Tâm như dây đàn thẳng.” (1) Lại dạy: “Tâm ngay là đạo tràng.” (2) Nếu không dính bám vào sự vui về thân thì không bị trói buộc vào nơi trọ nghỉ.
(71)
Người phàm phu theo cảnh, người tu đạo theo tâm. Tâm cảnh đều quên đó làpháp chân thật.
Người theo cảnh giống như con nai chay theo hoa đốm trong hư không. Người theo tâm giống như con khỉ tìm bắt mặt trăng dưới nước. Cảnh và tâm tuy khác nhưng đều là bịnh như nhau. Đây nói về phàm phu nhị thừa.

Trên trời đất không mặt trời mặt trăng nước Tần

Khắp núi sông không thấy vua tôi nhà Hán.
(Thiên địa thượng không Tần nhật nguyệt,
Sơn hà bất kiến Hán quân thần.)
(72)
Thanh văn ngồi yên trong núi ma vương tìm được. Bồ tát dạo chơi trong thế gian ngoại ma không nhìn thấy.
Thanh văn lấy tĩnh làm hạnh nên tâm động, tâm động thì quỷ thấy được. Bồ tát tánh vốn rỗng lặng nên không dấu vết, không dấu vết thì ngoại ma không thấy. Ở đây luận về Nhị thừa Bồ tát.
Tháng ba ngại đi đường hoa rụng
Một nhà buồn đóng cửa trong mưa.
(Tam nguyệt lãn du hoa hạ lộ,
Nhất gia sầu bế vũ trung môn.)
(73)
Người phàm khi đến lúc sắp lìa đời chỉ quán năm ấm là không, bốn đại  không cótự tánh, Tâm chân thật không có hình tướng, không đi không đến, khi sanh Tánh cũng không sanh, khi chết Tánh cũng không mất, thanh tịnh sáng suốt, đầy đủ lặng yên, tâm và cảnh cùng một thể. Chỉ cần ngay lập tức thông suốt được như vậy, không bị ba đời ràng buộc (ràng buộc vào nhân quả), liền là người tự do ở ngoài thế gian. Khi đó, thấy chư Phật không khởi tâm theo nương, thấy địa ngục không khởi tâm sợ hãi. Chỉ tự vô tâm thì cùng với pháp giới (không khác). Đó là điều quan trọng. Sinh hoạt trong đời sống hằng ngày là nhân, khi chết là quả. Người tu đạo nên đem mắt quán sát.
Đến tuổi già sợ chết thì gần gũi đức Thích Ca.
Lúc nầy nên hướng soi tự kỷ
Trăm năm ánh sáng lướt qua đầu.
(Như hướng thử thời minh tự kỉ,
Bách niên quang ảnh chuyển đầu phi)
(74)
Người phàm đến giờ lâm chung, nếu có một mảy may phân biệt phàm thánh,nghĩ ngợi không dứt, sẽ bị kéo vào thai lừa, bụng ngựa, bị nấu trong chảo nước sôi, cho đến sinh làm con kiến con muỗi.
Ngài Bạch Vân (1) nói: “Giả như một mảy ý niệm phàm thánh cũng không còn, cũng không khỏi nhập vào thai lừa bụng ngựa.”
(2) Còn một tâm niệm chia hai thì còn có thể bị lôi kéo tái sinh vào đường xấu.
Lửa lớn mênh mông
Gươm báu ngăn che.
(Liệt hỏa mang mang
Bảo kiếm đương môn.)
Bình:
Hai tiết nầy đặc biệt mở bày cửa vô tâm hợp đạo của Thiền, phương tiện ngăn chậnpháp môn niệm Phật cầu vãng sanh trong Giáo môn.
Tuy nhiên căn khí không giống nhau, chí nguyện cũng khác. Hai pháp môn nẩy không ngăn ngại nhau.
Xin các người học đạo thường ngày tùy theo phận sự mà cố gắng, để đến phút cuốikhông sinh nghi ngờ.
(75)
Người học Thiền nếu chưa thấu rõ được bổn tâm rỗng sáng thì làm sao thấu được cái cửa chót vót huyền diệu? Người ta thường lấy cái ‘không’ đoạn diệtcho là Thiền, cái ‘không’ vô ký cho là đạo, ‘hết thẩy đều không’ cho là cao kiến.
Cái ý tưởng ngoan không u tối đó là một chứng bịnh sâu xa. Những người gọi làtu Thiền ngày nay mấy ai là không bị chứng bịnh đó!?
Con đường đi lên không có chỗ để đặt chân. Vân Môn (1) nói: “Có hai thứ bệnh ngăn cản sự thấu rõ. Khi thấu đạt pháp thân rồi cũng còn có hai thứ bịnh.” (2) Do đó lúc nào cũng ở trong tự tánh (thủy đắc).
Không đi đường cỏ thơm
Khó đến thôn hoa rơi.
(Bất hành phương thảo lộ,
Nan chí lạc hoa thôn.)
(76)
Các bậc thầy cũng có nhiều bịnh. Bịnh tại tai mắt như dương mày nhướng mắt nghiêng tai gật đầu cho là Thiền. Bịnh tại miệng lưỡi như miệng nói lời đảo điênvô nghĩa, hô hoán lung tung cho là Thiền. Bệnh tại tay chân như đi tới đi lui, chỉ vẽ lung tung cho là Thiền. Bệnh trong tâm như nghĩ tìm điều huyền diệu, cho mình ở trên phàm tình, xa rời sự thấy biết cho là Thiền.
Giết cha mẹ thì có thể sám hối Phật, chê Bát nhã thì không có cách gì sám hối.
Bắt bóng không trung không tài khéo
Bên ngoài tìm dấu há người tài?
(Không trung toát ảnh phi vi diệu
Vật ngoại truy tung khởi tuấn ki.)
(77)
Việc của các bậc Thầy giác ngộ chỉ là bày tỏ câu nầy. Như người gỗ gõ nhịp, lò hồng điểm tuyết. Lại như ánh sáng lửa đá. Người học thật khó thể suy lường. Do vậy người xưa nhớ ơn Thầy mà nói rằng: “Không trọng đạo đức của Thầy, chỉ trọng Thầy dạy dỗ không vị ngã.” (1)
Đừng nói! Đừng nói.
Viết ra gây hoang mang.
(Bất đạo bất đạo
Khủng thượng chỉ mặc.)

Tên xuyên qua bóng trăng dưới sông

Hẳn đến từ người bắn chim điêu.
(Tiễn xuyên giang nguyệt ảnh,
Tu thị xạ điêu nhân.)
(78)
Người học trước tiên nên hiểu rõ về đường lối của Tông môn. Xưa Mã Tổ (1) hét một tiếng làm cho tai của Bách Trượng điếc, lưỡi của Hoàng Bá rụng. Một tiếng hét đó là tiêu tức đưa hoa, cũng là khuôn mặt của Đạt Ma lúc mới qua. Đó là đầu mối của tông Lâm Tế.
Người biết pháp thì la. Mở miệng thì đánh.
Gậy gỗ một cây không đốt mắt
Ân cần giao phó kẻ đi đêm.
(Trượng tử nhất chi vô tiết mục,
Ân cần phân phó dạ hành nhân.)
Xưa Mã Tổ hét một tiếng làm cho Bách Trượng (2) được đại cơ, Hoàng Bá (3) được đại dụng. Đại cơ là hoàn toàn ứng hợp, đại dụng là cắt đứt không vướn ngại. Nhữngcâu chuyện trên là từ sách Truyền Đăng Lục.
(79)
Tổng quát mà nói, Thiền có năm phái là Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Quy Ngưỡng, Pháp Nhãn.
Lâm Tế Tông:
Từ đức Bổn Sư Thích Ca cho đến đời thứ ba mươi ba Lục Tổ Huệ Năng trực tiếp truyền thọ gồm các Thiền Sư: Nam Nhạc Hoài Nhượng, Mã Tổ Đạo Nhất, Bách Trượng Hoài Hải, Hoàng Bá Hy Vận, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Hưng Hóa Tồn Tưởng, Nam Viện Thủ Ngung, Phong Huyệt Diên Chiểu, Thủ Sơn Tỉnh Niệm, Phần Dương Thiện Chiêu, Từ Minh Sở Viên, Dương Kì Phương Hội, Bạch Vân Thủ Đoan, Ngũ Tổ Pháp Diễn, (Viên Ngộ Khác Cần, Kính Sơn Tông Cảo).
(80)
Tào Động Tông:
Gồm những vị Thiền sư sau Lục Tổ không được truyền trực tiếp. Đó là các Thiền Sư:Thanh Nguyên Hành Tư, Thạch Đầu Hi Thiên, Dược Sơn Duy Nghiễm, Vân Nham Đàm Thịnh, Động Sơn Lương Giới, Tào Sơn Đam Chương, Vân Cư Đạo Ưng.
(81)
Vân Môn Tông:
Bàng truyền từ Mã Tổ, gồm các Thiền sư: Thiên Vương Đạo Ngộ, Long Đàm Sùng Tín,Đức Sơn Tuyên Giám, Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Vân Môn Văn Yển, Tuyết Đậu Trọng Hiển, Thiên Y Nghĩa Hoài.
(82)
Qui Ngưỡng Tông:
Bàng truyền từ Bách Trượng, gồm các Thiền Sư: Qui Sơn Linh Hữu, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Hương Nghiêm Trí Nhàn, Nam Tháp Quang Lậu, Ba Tiêu Huệ Thanh, Hoắc Sơn Cảnh Thông, Vô Trước Văn Hỉ.
(83)
Pháp Nhãn Tông:
Bàng truyền từ ngài Tuyết Phong, gồm các Thiền Sư: Huyền Sa Sư Bị, Địa Tạng Quế Sâm, Pháp Nhãn Văn Ích, Thiên Thai Đức Thiều, Vĩnh Minh Diên Thọ, Long Tể Thiệu Tu, Nam Thai Thủ An.
(84) 
Lâm Tế hét, Đức Sơn gậy đều chứng suốt vô sinh, thấu ngọn thấu gốc, đại cơđại dụng, tự tại không cùng, toàn thân hiện mất, toàn thân đảm đương, nắm giữcảnh giới của Văn Thù, Phổ Hiền. Tuy nhiên, hai vị Thầy nầy cũng không tránh khỏi loài ma quỷ bắt hồn.
Gió buốt thổi lông, không phạm đầu nhọn.
Rạng rỡ hàn quang, châu đẹp nước
Không không mây tản, nguyệt qua trời.
(Thước thước hàn quang châu mị thủy 
Liêu liêu vân tán nguyệt hành thiên.)
(85)
Bậc đại trượng phu gặp Phật gặp Tổ như gặp oán thù. Cầu Phật liền bị Phật trói, cầu Tổ liền bị Tổ trói. Có cầu có khổ, không bằng vô sự.
“Gặp Phật Tổ như oán thù”: Ở trên nói “Không gió mà nổi sóng.” “Có cầu có khổ”: Ở trên nói “Thể thật ngay đó.” “Không bằng vô sự”: Ở trên nói “Khởi niệm liền sai.”
Đạt đến chỗ đó thì có thể cắt đứt hết đầu lưỡi của người trong thiên hạ, bánh xe sinh tửsẽ dừng lại.
Cứu giúp nguy khốn, dẹp yên loạn lạc, như Đan Hà đốt Phật (1), Vân Môn cho chó ăn (2), Lão bà không gặp Phật (3). Thảy đều là thủ đoạn dẹp tan tà kiến, làm rõ chánh kiến.Cuối cùng thì như thế nào?
Thường nhớ bờ nam trong tháng Ba
Chá cô kêu hót giữa trăm hoa
(Thường ức giang nam tam nguyệt lí,
Chá cô đề xứ bách hoa hương.)
(86)
Thần quang không mờ, vẫn tự ngàn xưa. Vào trong cửa nầy, không còn tri giải.
“Thần quang không mờ” ở trên nói là “chiêu chiêu linh linh”. “Vẫn tự ngàn xưa” ở trên nói là “vốn không sinh diệt.” “Không còn tri giải” ở trên nói “không thể theo danh mà hiểu.” “Cửa” là chỉ sự ra vào của phàm Thánh, như Thần Hội nói: “Một chữ biết là cửa vào của các điều huyền diệu.” (1)
Toàn giáo pháp bắt đầu với cái không thể gọi tên tả hình, kết thúc với việc không còn tri giải. Bao nhiêu vướng mắc, một câu phá hết.
Trước sau một nghĩa, giữa nêu vạn hạnh. Như ba nghĩa trong sách vở thế gian, hai chữ tri giải (biết hiểu) là mối nguy lớn của Phật Pháp. Do đó, đưa ra rồi chấm dứt.Thiền sư Hà Trạch Thần Hội cũng do đây mà không được coi là đích tử (con chính, tứcđệ tử được ấn chứng) của Lục Tổ Tào Khê.
Tụng rằng:
Như muốn nêu bày rõ tông chỉ
Cười ngất Tây Tăng cặp mắt xanh.
(Như tư cử xướng minh tông chỉ
Tiếu sát Tây lai bích nhãn tăng.)
Rốt ráo thì thế nào?
Trăng đơn riêng chiếu sông núi lặng
Cười lên một tiếng trời đất kinh.
(Cô luân độc chiếu giang sơn tĩnh
Tự tiếu nhất thanh thiên địa kinh.)
(Thiền Gia Quy Giám hết



LỜI BẠT
Của Một Người Đệ Tử Của Tây Sơn Đại Sư
Bản văn trên được viết do ngài Do-Eun (Thiền sư Tây Sơn), một vị Thiền sư sáng chói thuộctông phái Choye của Phật Giáo Đại Hàn.
Than ôi! Phật Giáo Đại Hàn đã suy thoái trên 200 năm. Những vị lãnh đạo Thiền tông và những vị chuyên về kinh điển khoanh vùng trong những quan điểm riêng. Những vị chuyên về kinh điển khai triển một khẩu vị cho những sự việc nhỏ hơn, và những vị nầy thì rất nhiều. Các vị nầy không biết có một con đường có thể giác ngộ từ bên trong, không nương tựa vào năm thừa giáo.
Trong khi đó, những người chuyên thực hành thiền quán thì chỉ tin vào sự thanh tịnhnguyên sơ nên coi thường vai trò của tiệm tu. Họ thường coi nhẹ việc thực hiện sựtoàn giác sau khi đốn ngộ. Những vị chỉ tập trung vào việc tu tập thiền quán có thể không chú ý đến tác dụng của việc thực hành nhiều pháp môn để cho diệu dụng củagiác ngộ được thuần thục và hoàn hảo.
Vì những lý do đó, vai trò của Thiền và Giáo thường bị lẫn lộn, như vàng và cát hòa trộn. Kinh Viên Giác nói: “Có người nói rằng vì con người sinh ra đã có Phật Tánh, và đã hoàn hảo, do đó ‘không có vô minh, không có giác ngộ’ nên quên mất nhân quả. Đó là cái thấy sai lầm. Lại có người cho rằng đốn ngộ là ảo tưởng vì vô minh chỉ đượcvượt qua bằng việc tu tập từ từ, do đó không nhìn thấy bản tánh chân thật không thay đổi của chính mình. Đây cũng là cái thấy sai lầm.”
Thật là nguy hiểm!
Vì sao truyền đạo lý nầy một cách đúng đắn rất khó khăn?
Truyền thống của chúng ta đang trên đường đi xuống như treo vạn cân trên một sợi tóc giữa hư không khi vị Lão Sư của chúng tôi ngồi viết tác phẩm nầy. Ngài dùng mọi thời gian rãnh rỗi trong mười năm chăn trâu ở núi Tây Sơn để kết tập. Ngài nghiền ngẫmnăm mươi bộ Kinh và những sớ giải liên quan, và chỉ ghi xuống những giòng rõ ràngnhất và căn bản nhất mà ngài tìm thấy. Rồi ngài trực tiếp dạy cho chúng tôi, những đệ tử của ngài, cho chúng tôi thấy lòng thương yêu của một người chăn cừu đối với đàn cừu: Với lòng lân mẫn, ngài dạy ít lại cho những người vượt quá và thúc đẩy những người lười biếng và không theo kịp. Tất cả những việc làm đó của ngài chỉ với mục đích đưa họ đến cửa đại ngộ.
Tuy nhiên, đệ tử của ngài quá đần độn, cảm thấy khó khăn với những thời Pháp cao siêu khó hiểu của ngài. Do đó, vị Lão Sư cảm thương, thêm phần chú giải vào mỗi câu và sắp xếp theo thứ tự. Kết quả là tất cả các câu được nối lại thành một xâu, và máu huyết bắt đầu lưu thông, đem giáo lý sống động đến cho những người đệ tử nầy.
Bản văn chứa đựng tinh túy của tám mươi bốn ngàn bộ kinh và cốt tủy của năm phái Thiền. Mỗi chữ đều mở bày chân lý, mỗi câu đều phù hợp với giáo pháp mà ngài muốn chỉ bày. Học hỏi bản văn, người quá độ sẽ tìm thấy sự tiết điệu, người bị đình trệ sẽvượt qua. Bản văn nầy quả thật là một tấm gương cho cả Thiền cũng như Giáo, một món thuốc rất hiệu nghiệm để đạt được hiểu biết chân chính và tác dụng của sự hiểu biết đó cho sự đốn ngộ cũng như việc tiệm tu.
Chúng ta nên biết rằng vị Lão Sư đã luôn luôn thận trọng tối đa khi nói về những vấn đềtrong tác phẩm nầy. Giống như bước đi trên một lưỡi dao bén, ngài lo rằng chỉ một chữ hay nửa câu cũng có thể đưa đến hậu quả trong một bản văn như bản văn nầy. Vì vậylưu hành rộng rãi hay vinh danh bản văn có thể là việc ngài muốn. Trong số những đệ tử của ngài, Thiền Sư Baek Un Bo Won sao chép và Đại Sư Byeok Chon Ui Cheonhiệu đính. Sau đó, những đệ tử khác như Đại Sư Jeong Wong, Đại Sư Dae Sang và Cheong Ha Boep Yung cung kính lễ bái và tán dương tác phẩm nầy là một tác phẩmkhông gì sánh. Cùng với sáu bảy vị tăng khác, họ quyên được đủ tiền khắc bản gỗ đểlưu hành về sau. Bản văn được phổ biến rộng rãi để trả ơn phần nào cho lòng từ bi lớn lao trong việc giáo hóa khai ngộ của ngài.
Chân lý thâm sâu của đức Phật và giáo pháp vi tế của chư Tổ giống như biển lớn: Nếu muốn tìm viên ngọc quý giá trong miệng rồng lớn dưới đáy biển, thì phải vào biền lúc mặt đại dương như thế nào? Và cái gì sẽ giúp cho sự tìm kiếm? Nếu không có nhữngphương tiện để di chuyển dưới biển giống như đi trên đất một cách tự tại thì không thể nào thực hiện ngoài việc ngồi trên bờ mà kêu oán.
Do đó sự thành tựu của vị Thầy chúng ta trong việc chọn lựa tinh túy của các lời dạy, và lòng từ bi của ngài trong việc khai ngộ chúng ta cao như núi và sâu như biển. Dù có nghiền xương cả ngàn lần, lấy thân mạng để đền đáp vạn lần cũng không thể đền đáp một chút xíu lòng từ mẫn bao la mà ngài đã ban cho chúng ta.
Chỉ đừng kinh nghi khi nghe và thấy những lời dạy nầy. Nếu đọc với lòng tôn kính và coi nó như kho tàng của mình, bản văn nầy sẽ trở thành một nguồn sáng dẫn đường, chẳng những cho đời nầy mà còn cho đời sau, đời sau nữa.
Những lời nầy được viết vào mùa Xuân niên hiệu Gimyo trều đại Manryeok (1579)

 

Tỳ kheo Yu Jeong, thuộc tông phái Choye Phật giáo Đại Hàn, kính lạy những lời dạy cốt tủy nầy được truyền từ Bổn Sư của chúng tôi, với lòng khiêm cung xin dâng những lời cuối cùng nầy.nguồn: http://thuvienhoasen.org/p33a26911/chu-thich

SỰ BÌNH AN KHÔNG
GÌ LAY CHUYỂN
Thiền sư Ajhan Cha
Người dịch: Sư Tâm Pháp

Một bài pháp thiền sư Ajhan Cha thuyết cho một vị sư chuyên nghiên cứu pháp học và nhóm Phật tử tại chùa Wat Pah Pong trong những năm
1960.

Toàn bộ mục đích của
việc nghiên
cứu Phật Pháp là
để tìm con
đường giải thoát khổ, đạt đến hạnh phúc và bình an. Dù chúng ta nghiên cứu các hiện tượng thân hay tâm, tâm vương (citta) hay tâm sở (cetasikā), chỉ khi lấy sự giải thoát khổ làm mục đích cuối cùng thì chúng ta mới
ở trên con
đường chánh – không gì
khác. Khổ có mặt là bởi vì có nhân, có duyên để nó tồn tại.

Hãy hiểu thật rõ rằng
khi tâm tĩnh lặng, nó ở trạng thái tự nhiên,bình thường.
Ngay khi tâm chuyển động, nó trở thành các
hành (sankhāra), bị ràng buộc (bị
tạo nên bởi các điều kiện, nhân tố khác nhau). Khi tâm bị thu hút bởi
một đối tượng nào đó, nó bị ràng buộc, bị tạo
thành bởi các điều kiện. Khi sân hận khởi lên, nó bị ràng buộc. Ý muốn đi
chỗ này chỗ kia sanh khởi từ
việc bị ràng buộc. Chánh niệm của chúng ta không theo kịp được sự sinh sôi của tâm khi chúng
diễn ra, tâm đuổi theo chúng và bị chúng trói buộc. Bất cứ khi nào tâm chuyển động, ngay lúc
đó, nó trở
thành một thực tại chế định.

vậy, Đức Phật dạy chúng ta quán chiếu những điều kiện cấu tạo,
thường biến
chuyển này của tâm mình.
Mỗi khi tâm chuyển động, nó trở nên không bền vững và vô thường (anicca), khổ (dukkha), vô ngã (anattā). Đây là những đặc tính luôn có của tất cả mọi sự vật, hiện tượng bị tạo nên bởi các điều kiện. Đức Phật dạy chúng taquan sát và quán chiếu những chuyển động này của tâm.
Giáo
lý về 12 nhân duyên (sự sanh khởi tùy thuộc vào nhân duyên- paticca
samuppāda
) cũng như vậy: vô minh(avijjā) là nhân duyên cho sự sanh khởi của các hành (sankhāra); hành
là nhân
duyên sanh thức (viññāna);
thức là nhân
duyên sanh khởi danh-sắc (nāma-rūpa),
v.v…như chúng ta nghiên cứu trong kinh điển. Đức Phật tách rời từng mắt xích trong chuỗi nhân duyên ấy để dễ nghiên cứu.
Đó là sự diễn
tả chính xác và chi tiết về thực tại, nhưng khi tiến trình này thực sự xảy ra
trong cuộc sống thực tế, các học giả không
thể theo được những gì đang diễn ra. Nó giống khi bạn bị rơi từ ngọn cây xuống
đất. Chúng
ta chịu không thể biết mình đã rơi qua bao nhiêu cành cây. Tương tự như vậy, khi tâm bất ngờ tiếp nhận một tác động giác quan, nếu thích, nó lập tức bay bổng vào một tâm trạng tốt. Nó cho
cái đó là tốt mà không hề ý thức được
cả một chuỗi nhân duyên đã
dẫn đến đó. Tiến trình diễn ra
đúng theo lý thuyết, nhưng ngay lập tức cũng
vượt ra ngoài giới hạn của lý thuyết ấy.
Chẳng có cái gì tuyên bố lên: “Đây là vô minh đấy. Đây là hành đấy, thức đấy”. Tiến
trình không cho nhà học giảcơ hội để đọc danh sách khi nó đang diễn ra.
Mặc dù Đức
Phật phân tích và diễn giải trình tự của tiến trình tâm đến tận chi tiết nhỏ nhất, đối với tôi, nó cũng giống
như rơi từ trên cây xuống. Khi rơi xuống, chẳng có cơ hội nào để mà ước lượng mình đã rơi được bao nhiêu mét, bao
nhiêu cm. Cái chúng ta biết
chỉ là rơi bịch một cái xuống đất và đau điếng người.
Tâm cũng y hệt như
vậy. Khi nó đổ vỡ vì một cái gì đó, cái chúng ta ý thức được
chỉ là nỗi đau. Tất cả những nỗi khổ, đau đớn, u sầu và thất vọng ấy đến từ đâu? Nó không đến từ mớ lý thuyết trong sách vở. Chẳng có chỗ nào ghi
lại chi
tiết nỗi khổ của chúng ta cả. Cái khổ của chúng ta sẽ không hoàn toàn chính xác như trong lý thuyết,
nhưng cả hai đều đi trên cùng một con đường. Vì vậy, chỉ mỗi lý thuyết thì
không thể theo kịp thực tế. Chính vì lý do đó
mà Đức
Phật dạy chúng ta phát triển sự hiểu biết rõ ràng về chính bản thân mình. Bất cứ cái gì sanh khởi,
nó sanh
khởi trong cái biết này.
Những cái mà nó biết, nó biết đúng theo chân lý, khi đó tâm và các thành phầncủa
nó (tâm sở) sẽ được nhận diện là không phải của ta. Cuối cùng tất cả chúng đều bị ta từ bỏ và vứt đi như rác. Chúng ta không nên bám víu lấy nó hay cho nó bất cứ ý nghĩa gì.
Lý thuyết và thực tế
Đức
Phật không dạy chúng ta về tâm và tâm sở để ta bám víu vào các khái niệm ấy. Ý định duy nhất của Ngài là để chúng ta nhìn rõ thấy chúng là vô thường,
khổ và vô
ngã. Rồi từ bỏ. Gạt nó qua một bên. Chánh niệm và biết nó mỗi khi nó sanh khởi.
Tâm chúng
ta vốn bị ràng buộc,
bị tạo thành bởi các nhân tố và điều kiện. Nó đã bị rèn luyện để
quay lưng lại và bật ra khỏi trạng thái thuần túy hay
biết (ghi nhận thuần túy). Khi tâm quay cuồng và
bật ra khỏi trạng thái ấy,
nó tạo ra thêm những nhân tố và điều kiện mới
nữa để tiếp
tục tác động đến
tâm, và cứ nhân rộng lên như thế mãi. Tiến trình ấy đẻ ra điều tốt, cái xấu, và
tất cả mọi thứ trên đời. Đức Phật dạy chúng tatừ bỏ tất cả. Tuy nhiên, lúc đầu bạn phải làm quyen với lý thuyết để có thể từ bỏ chúng hoàn toàn trong giai đoạn sau. Đó là một tiến
trình tự
nhiên. Tâm hoạt động theo
cách đó. Các tâm sở (thành phần của
tâm) cũng hoạt động theo
cách đó.
Hãy lấy Bát Chánh Đạo (con đường thánh đạo 8 ngành) làm ví dụ. Khi trí tuệ (paññā) nhìn nhận mọi sự một
cáchđúng đắn bằng tuệ giác,
cái nhìn đúng
đắn (chánh kiến) này sẽ dẫn đến suy nghĩ và tác ý đúng đắn (chánh tư duy), lời nói đúng đắn (chánh ngữ), hành động đúng đắn (chánh nghiệp)…Tất
cả điều này đều có liên quan đếncác yếu tố tâm lý, được sanh khởi từ chánh niệm thuần túy[1]. Chánh niệm và cái biết này giống như ngọn đènhắt
chiếu sáng con đường giữa
bóng đêm. Nếu cái biết đúng, thuận theo chân lý, nó sẽ lần lượt chiếu
sáng từng bước đi trên con đường.
Bất cứ cái gì chúng ta ý thức và kinh nghiệm được,
nó đều sanh
khởi từ trong cái biết
này. Không có tâm thì cũng thể có cái biết ấy. Tất cả là các hoạt động của tâm.  Như Đức Phật nói, tâm vốn chỉ là tâm: nó không phải
là một con
người hay một chúng sinh nào cả, không phải cái tôi, không phải
là bản
thân mình; nó chẳng phải
làchúng ta hay
bọn họ. Pháp
chỉ đơn giản là
Pháp[2].
Nó là một tiến trình tự nhiên, không thuộc về ai cả. Nó không thuộc về chúng ta hay bất cứ ai trên đời. Nó cũng chẳng
là một sự vật nữa. Bất cứ cái gì con người ý thứcđược, tất cả đều nằm trong 5 nhóm hợp thành mà
ta vẫn gọi là ta, là của ta (ngũ uẩn-khandhas): thân, cảm giác,nhận thức, suy nghĩ-tác ý, và sự nhận biết (sắc, thọ, tưởng, hành, thức)[3]. Đức Phật dạy chúng ta hãy từ bỏ tất cả.
Thiền
tập giống như một khúc gỗ. Thiền quán (vipassanā-hay còn gọi là thiền tuệ, thiền minh sát)
là một đầu,thiền chỉ (samatha-hay còn gọi là thiền định)
là đầu kia. Nếu chúng ta cầm
thanh gỗ lên, thì chỉ một đầu lên hay cả hai đầu lên? Khi cầm khúc gỗ, cả hai
đầu cùng lên. Vậy khi đó phần nào là thiền quán, phần nào là thiền chỉ? Chỗ nào là nơi kết thúc của phần này và bắt đầu của phần kia?
Cả hai phần ấy đều chỉ là tâm. Khi tâm bình an,ban đầu an lạc khởi
lên từ sự vắng lặng của thiền chỉ. Chúng ta tập trung và gom tâm vào một trạng thái an lạccủa
định (samādhi). Tuy nhiên, khi sự an lạc và
tĩnh lặng của định tan dần, cái khổ sẽ sanh khởi ngay
chỗ ấy. Vì sao vậy? Bởi vì sự an lạc từ thiền chỉ vẫn dựa trên sự
dính mắc. Sự dính mắc này là nguyên nhân của
khổ. Tĩnh lặng không phải là điểm cuối của đường đạo. Đức Phật đã nhìn ra từ kinh nghiệm của chính bản thân rằng sự an lạc ấy không phải là đích đến cuối cùng. Nguyên nhân của sự hiện hữu các kiếp sống (bhava) vẫn chưa
bị đoạn
diệt (nirodha).
Những điều
kiện cho sự tái sanh vẫn còn tồn tại.
Công việc tâm linh của
ngài vẫn chưa đạt đếnchỗ hoàn hảo. Vì sao? Bởi vì ở đó vẫn còn khổ. Dựa trên sự tĩnh lặng của thiền chỉ,
ngài tiếp
tục quán chiếu, thẩm xét và phân tích bản chất thực tại vốn
bị tạo thành bởi các điều kiện cho đến khi giải thoát hoàn toàn khỏi mọi trói buộc và dính mắc, kể cả dính mắc vào tĩnh
lặng. Tĩnh lặng vẫn là một phần của thế giới bị
tạo thành và của thực tại thông
thường. Dính mắc vào loại an lạc này
là dính mắc vào thực tại thông
thường, và khi còn dính mắc, chúng ta còn
bị cuốn đi trong luân hồi và tái sanh. Ham thích sự an lạc của thiền chỉ vẫn dẫn đến sự tái sanh và luân hồi nữa.
Khi sự bất
an và xáo động lắng xuống, con người ta lại thường bám víu vào sự bình an.
Đức
Phật quán xét các nguyên nhân và điều kiện hình
thành nên kiếp sống và sự tái sanh. Khi chưa hoàn toànxuyên thấu vấn đề và
hiểu sự
thật, ngài vẫn tiếp tục tìm hiểu ngày
càng sâu hơn với một nội tâm tĩnh
lặng, quán xét xem mọi thứ, dù bình an hay
không, trở
thành hiện hữu như
thế nào. Sự
quán chiếu ấy tiếp tục cho đến khi ngài thấy rõ ràng mọi thứ đang trở thành hiện hữu giống như một khối sắt nung đỏ. Năm
nhóm hợp thành mộtchúng sanh (khandhas –ngũ uẩn) chỉ là một khối sắt nóng đỏ. Khi một khối sắt
đang nóng đỏ, có chỗ nào đụng vào mà không bị bỏng hay không? Ở đó có chỗ nào
mát hay không? Hãy thử đụng vào phía trên, bên dưới, bên cạnh khối sắt ấy xem sao.
Có chỗ nào mát không? Không thể. Khối sắt ấy nóng đỏ tất cả mọi chỗ. Chúng tathậm
chí cũng không thể dính mắc vào sự an lạc và
tĩnh lặng. Nếu chúng ta tự đồng hóa với sự an lạc ấy, cho rằng có người đang bình an và tĩnh lặng, chính điều này củng cố thêm cảm giác rằng
có một cái tôi hay một linh hồn độc lập nào
đó. Cảm
giác về cái tôi đó là một
phần của thực
tại thông thường. Cứ suy nghĩ:
“Tôi đang bình an”, “Tôi đang xáo động”, “Tôi tốt”, “Tôi xấu”, “Tôi hạnh phúc”,
“Tôi đau khổ”, chúng ta sẽ
còn bị mắc
kẹt trong tái sanh và luân hồi nữa.
Và càng đau
khổ nữa. Khi sự an lạc mất đi, chúng ta sẽ đau khổ vì
điều ấy. Khi cái buồn, cái khổ hết, chúng ta lại hạnh phúc.
Bị kẹt trong cái vòng luẩn quẩn vô tận ấy, chúng ta cứ luân chuyển qua
lại giữa cõi
trời và địa ngục.
Trước khi giác ngộ, Đức Phật đã nhận ra được
điều này trong tâm mình. Ngài biết rằng các nhân gây tái sanh vàhiện hữu vẫn còn chưa hết. Công việc của ngài
còn chưa làm xong. Quán chiếu nhân duyên của
kiếp sống, ngài thấy ra bản chất của
nó: “Bởi vì có nhân này nên có tái sanh, bởi vì có tái sanh nên
có chết, và cứ như thế luânhồi mãi”. Đức Phật quán chiếu đề mục ấy
để hiểu sự
thật về ngũ uẩn.
Tất cả mọi thứ trong thân và tâm, tất cả mọi thứ được ta nhận biết và suy nghĩ, không trừ một ngoại lệ nào, đều bị tạo thành
bởi các điều
kiện và nhân tố khác. Khi
đã hiểu được điều này, ngài dạy chúng ta hãy
đặt nó xuống. Khi đã hiểu được điều này, ngài dạy chúng ta hãy từ bỏ tất
cả chúng. Ngài khích lệ người khác hiểu theo đúng sự thật ấy. Nếu không hiểu
đúng, chúng
ta sẽđau khổ. Chúng ta sẽ
không thể buông bỏ được
những thứ ấy. Nhưng khi đã thấy sự thật của vấn đề, chúng tasẽ nhận ra chúng lừa đảo mình như thế nào.
Đức
Phật dạy tâm chúng ta không phải là một thực thể nào; nó chẳng là một cái gì cả. Tâm không phải sinh ra để thuộc về một ai hết.
Nó cũng không chết đi như của một người nào. Cái tâm này tự do,
tỏa sáng và không bịtrói buộc bởi bất cứ vấn đề gì. Lý do rắc rối khởi
sanh là vì tâm bị che khuất bởi
các sự việc do nhân duyên tạo
thành, bị che khuất bởi ảo tưởng về một cái tôi. Vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta hãy quan sát tâm mình. Lúc đầuở
đó có cái gì? Thực sự chẳng có gì cả. Nó không sanh khởi với các sự việc do nhân duyên tạo, và nó cũng chẳng chết đi với
chúng. Khi tâm tiếp xúc với
điều tốt, nó không biến thành tốt.
Khi gặp điều xấu, nó cũng chẳngtrở thành xấu. Đó là cách mọi việc diễn ra khi tâm có tuệ giác rõ ràng về bản chất của chúng ta.
Khi đó, có mộthiểu biết rằng thực ra trong
nó chẳng có chút thực chất nào.
Tuệ
giác của Đức Phật thấy rõ tất cả chúng chỉ là vô thường,
khổ, vô
ngã. Ngài muốn chúng ta cũng
thực sự hiểu được theo cách đó. Cái biết khi đó sẽ biết đúng theo sự thật.
Khi nó biết hạnh phúc hay đau khổ,
nó vẫn không chao động. Cảm xúc hạnh phúc chỉ
là một dạng của sự sinh. Xu hướng buồn
khổ là một dạng của cái chết. Có chết thì có sinh, có sinh thì có tử. Cái sinh và
diệt ấy bị kẹt trong cái vòng vô tận của
sự sinh ra và trở thành. Tâm thiền sinh đã đạt đến sự hiểu biết này
sẽ không còn chút nghi ngờ nào
về sinh
tử nữa. Chẳng cần phải hỏi bất cứ ai cả.
Đức
Phật quán
chiếu toàn
diện các pháp do nhân duyên tạo thành và vì vậy đã từ bỏ tất
cả chúng. 5 nhóm hợp thành (ngũ uẩn) bị từ bỏ,
và cái biết được duy trì chỉ
như là một người quan sát khách quan với
tiến trình. Khi cảm nhận điều gì tích cực, ngài không vì thế mà trở thành tích cực cùng với nó. Ngài chỉ đơn giản quan sát vàtỉnh thức.
Khi gặp phải điều tiêu cực, ngài không trở thành tiêu cực theo.
Tại sao thế? Bởi vì tâm ngài đã cắt bỏ và giải thoát khỏi
những nguyên
nhân và điều kiện đó. Ngài thể nhập vào sự thật. Những nhân tố và điều kiện dẫn đến tái sinh đã không còn nữa. Đó là cái biết chắc chắn và tin cậy. Đó là cái tâm thực sự bình an và hạnh phúc. Đó là cái không sinh, không già, không bệnh, không chết. Chẳng
phải là nhân hay duyên, không còn phụ thuộcnhân duyên nữa.
Nó không còn phụ thuộc vào quy luật nhân quả nữa. Các nhân sẽ diệt tận mà không còn
tạo thêm nhân mới. Cái tâm đó đã vượt qua sinh tử, đứng trên hạnh phúc và đau khổ,
vượt ra ngoài cả thiện ác. Bạn có thể nói gì bây giờ? Nó nằm ngoài giới hạn của ngôn từ để diễn tả.
Tất cả mọi nhân duyên tạo
thành đã diệt, và bất cứ cố gắng nào
để diễn
tả điều đó chỉ dẫn đến dính mắc (vào khái niệm, ngôn từ)
mà thôi. Ngôn
từđược sử dụng để diễn tả sẽ chỉ là lý thuyết.
Sự diễn tả trên lý thuyết về
tâm và sự hoạt động của
tâm thì rất chính xác, nhưng Đức Phật nhận thấy rằng
loạikiến thức này
đa phần là vô ích. Chúng ta hiểu
một cái gì đó trên lý thuyết và
rồi tin vào nó, nhưng nó chẳng có lợi ích thực
sự nào cả.  Nó chẳng dẫn đến sự bình an cho
tâm. Sự hiểu
biết của Đức Phật mới dẫn đến sự từ bỏ.
Kết quả là sự xuất ly và buông bỏ.
Bởi vì chính
tâm là cái dẫn chúng ta dính líu vào cái đúng cái sai. Nếu là người có
trí, chúng
ta sẽ dính với điều đúng.
Nếu ngu
ngốc, chúng ta đi
với cái sai. Một cái tâm như vậy là tâm phàm của thế gian, Đức Phật sử dụng chính những cái trong thế gian này để quán chiếu thế gian.
Khi đã hiểu được thế gian này
như nó thực sự đang là, ngài được gọi là bậc hiểu hiểu biết thế gian (lokavidū).
Đối với thiền chỉ (samatha) và thiền quán (vipassanā), điều quan trọng là
phải phát triển các phẩm chất ấy trongchính tâm mình. Chỉ khi thực sự tu tập để phát triển nó thì chúng ta mới biết nó thực sự là gì. Chúng ta đi mànghiên
cứu những gì sách vở nói
về các tâm
sở, nhưng loại kiến thức sách
vở ấy vô
ích trong việc cắt đứt
tham, sân, si, ích kỷ. Chúng ta chỉ nghiên cứu lý thuyết về tham, sân, si, chỉ là diễn tả những tính chất khác nhau củaphiền
não: “tham có nghĩa thế này, sân có nghĩa thế kia, si được định nghĩa
thế nọ”. Chỉ biết các tính chất của
chúng trên lý thuyết, chúng ta chỉ
có thể nói về chúng ở mức độ lý thuyết ấy.  Chúng ta biết, và chúng ta thông minh,
nhưng khi những phiền não đó
thực sự có mặt trong tâm, chúng có phù hợp với lý thuyết hay không? Chẳng hạn, khi gặp việc
không như
ý, chúng ta có phản ứng và khó chịu hay không? Chúng ta có dính mắc không? Chúng ta có thể buông bỏ được không? Khi có sân khởi lên, chúng ta nhận ra nó thì có dính với nó hay không? Hay
khi thấy nó là chúng ta buông
bỏ? Khi thấy cái gì chúng ta không
thích, mà vẫn giữ sự khó chịu ấy ở trong tâm, thì tốt hơn hết là hãy trở về mà học lại bài đi. Bởi vì nó vẫn chưa
đúng. Sự thực
hành vẫn chưa hoàn hảo.
Khi đến độ hoàn hảo, sự buông bỏ sẽ lập tức diễn ra. Hãy nhìn sự việc theo cách
ấy.
Chúng
ta phải thực sự nhìn sâu vào tâm mình nếu
muốn được hưởng thành quả của pháp hành.
Chỉ cố
gắngdiễn tả tâm với các sát na tiến trình tâm và các tính chất của nó, theo tôi nghĩ, thì chưa thực hành đủ. Còn rất nhiều việc phải làm nữa. Nếu chúng ta nghiên cứu những điều đó, chúng ta phải biết chúng hoàn toàn đầy đủ,hiểu
biết rõ ràng và xuyên thấu.
Không có tuệ
giác rõ ràng, làm sao chúng ta hoàn thành xong
công việc? Không bao giờ. Chúng ta không
bao giờ nghiên
cứu xong.

vậy, thực hành pháp là cực kỳ quan trọng. Thực hành là cách tôi học hỏi và nghiên cứu. Tôi chẳng biết tý gì về các sát na tiến trình tâm hay các tâm sở cả. Tôi chỉ quan sát chất lượng của cái biết, của chánh niệm.
Nếu mộtsuy nghĩ sân hận sanh khởi,
tôi hỏi bản
thân mình: tại sao. Một suy nghĩ từ bi sanh khởi,
tôi tự hỏi mình: tại sao. Gọi nó là một suy nghĩ hay
một tâm
sở thì có gì khác nhau?
Chỉ nhìn thấu vào một điểm ấy thôi cho đến khi
bạn có thể giải quyết những cảm xúc yêu ghét đó, cho đến khi chúng hoàn toàn biến mất khỏi tâm mình. Khi có thể
dừng lại mọi yêu ghét, cho dù ở bất cứ hoàn cảnh nào,
thì khi đó tôi mới có thể vượt ra khỏi đau khổ. Khi đó, cho dù bất cứ cái gì xảy đến, tâm vẫn
luôn an
lạc, thỏa mái và nhẹ nhõm. Chẳng có gì còn sót lại. Tất cả đã chấm dứt.
Hãy thực hành như thế. Nếu mọi người muốn nói nhiều về lý thuyết,
đó là việc của họ. Nhưng dù cho đàm luận nhiều đến đâu chăng nữa, pháp hành luôn phải quay lại một điểm duy nhất ở đây. Khi cái gì đó sanh khởi,
nó sanh khởi ngay
tại đây. Nhiều hay ít, nó cũng sanh lên ở ngay đây. Khi diệt mất, nó diệt ở
ngay tại đây. Còn nơi nào khác nữa? Đức Phật gọi
điểm ấy là “cái biết” (chánh niệm). Khi nó hiểu chính xác cách thức mọi việc diễn ra, đúng theo sự thật, chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa của tâm. Mọi thứ đều không ngừng lừa
dối. Khi bạn nghiên cứu chúng,
chúng lừa
đảo bạn ngay lập tức.
Làm sao tôi có thể nói khác được? Ngay cả khi bạn biết về chúng, bạn vẫn bị
chúng bịt mắt, chính ngay tại chỗ bạn biết. Đó là thực tế. Vấn đề là ở chỗ: theo tôi, Đức Phật không có ý nói rằng chúng ta chỉ biết những thứ đó được gọi là gì; mục đích những lời Đức Phật dạy là chỉ ra con đường tự giải thoát
chúng ta ra khỏi
những thứ đó, bằng cách tìm hiểu những nguyên nhân đằng sau nó.
Giới, định và tuệ

Tôi thực hành Pháp mà không hiểu biết nhiều về lý thuyết.
Tôi chỉ biết rằng con đường giải thoát bắt
đầu bằng giới (sīla). Giới là đoạn khởi đầu tốt đẹp của con đường; định tâm sâu
sắc (samādhi) là cái đẹp ở đoạn giữa; tuệ (paññā) là cái đẹp ở
đoạn cuối. Mặc dù chúng có thể được phân chia thành
3 phần riêng biệt của pháp hành, nhưng khi nhìn vào chúng thật sâu sắc, cả
ba phẩm chất tâm này đều hợp nhất làm một. Để giữ giới bạn
phải cótrí tuệ. Chúng ta thường khuyên mọi người tu tập giới bằng cách giữ 5 giới[4] để củng cố giới hạnh vững chắc.Tuy nhiên, để đạt được sự hoàn hảo về giới hạnh cần phải có
rất nhiều trí tuệ. Chúng ta phải xem xét mọi lời nóivà hành động của mình, và phân tích những hậu quả của nó. Tất cả đều là công việc của trí tuệ. Chúng ta phảidựa vào trí tuệ để tu tập giới.
Theo lý thuyết,
giới đi
trước rồi đến định và tuệ,
nhưng sau khi xem xét, tôi phát hiện ra trí tuệ là
hòn đá tảng cho tất cả mọi mặt của pháp hành. Để hoàn toàn nắm
bắt được hậu
quả của những gì mình nói
hay làm, nhất là những hậu quả xấu, chúng ta cần có trí tuệ để dẫn đường và
giám sát, phân tích tìm hiểu sự vận hành của nhân và quả. Điều đó sẽ làm thanh
lọc lời
nói và hành động của chúng ta.
Khi đã biết rõ những hành vi thiện
và bất
thiện, chúng ta sẽ
thấy ra được chỗ để tu. Khi đó chúng ta sẽ từ bỏ những việc bất thiện và phát triển việc thiện,từ bỏ cái
sai, tu
tập cái đúng. Đó chính là
giới. Khi thực hành như
vậy, tâm chúng
ta sẽ ngày càng vững vàng,
ổn định. Một cái tâm ổn định, không lay động sẽ được giải
thoát khỏi hối hận,
tiếc nuối, và mơ hồ trong lời nói và hành động. Đó chính là định.
Một cái tâm ổn định và chú tâm sẽ tạo ra nguồn năng lượng thứ hai, mạnh mẽ hơn để sử dụng trong việc thực hành pháp, cho phép chúng ta quán chiếu sâu sắc hơn về hình ảnh, âm thanh…mọi
thứ mà chúng
ta cảm nhận qua các giác quan.
Khi tâm đã thiết lập được
sự bình
an và chánh niệm không lay động, chúng ta có thể bắt tay vào việc quán chiếu, tìm hiểu liên tục thực tại của thân, cảm giác và cảm xúc, nhận thức, suy nghĩ, tâm nhận biết, các hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, cảm giác và
các đối tượng trong tâm. Chúng liên tục khởi
sanh, và chúng
ta cũng liên tục quán chiếu với sự quyết tâm thực lòng không để mất chánh niệm.
Khi đó chúng
ta sẽ hiểu được những thứ
đó thực sự là gì. Chúng có mặt đúng theo sự thật tự nhiên của
chúng. Khi hiểu biết này
ngày càngtăng trưởng vững chắc, trí tuệ sẽ sanh khởi. Một khi đã thấu hiểu cách mọi thứ thực sự
là, những ảo tưởng cũ
của chúng
ta sẽ bị nhổ bật, và những kiến thức lý thuyết mang đầy khái niệm của chúng ta sẽ chuyển hóa thànhtrí tuệ. Đó là cách giới, định và tuệ hoạt động và hòa vào làm một với nhau.
Khi trí tuệ tăng cường sức mạnh,
định sẽ tiến
hóa và trở nên ngày càng
vững mạnh. Định càng vững, giới sẽ càng vững và càng hoàn thiện.
Khi giới
hoàn hảo, nó nuôi dưỡng định, và định được tăng cường sẽ dẫn đến trí tuệ chín muồi.
Ba thành
phần của pháp hành này kết nối và đan xen lẫn nhau. Hợp vào làm một, chúng tạo nêncon đường tu tập gồm
8 chi
phần (Bát Chánh Đạo), con đường của Đức Phật.
Khi giới, định, tuệ đạt đến đỉnhcao, Đạo có đủ sức mạnh để diệt trừ những ô nhiễm, phiền não (kilesa)[5] trong
tâm. Khi tham
dục (ham muốnhưởng thụ, vui thú của giác quan)
khởi lên, khi sân, si trưng ra bộ mặt của chúng, Đạo là cái duy nhất có thể cắt đứt chúng.
Bốn sự thật về khổ (Tứ
diệu đế) là cái khung của pháp hành: Sự thật về
khổ (dukkha – khổ đế), Sự thật vềnguyên nhân của khổ (samudaya- tập đế), Sự thật về
sự diệt
khổ (nirodha-diệt đế), Sự thật về con đường diệt khổ (magga-đạo
đế). Con đường này
được tạo thành bởi giới, định, tuệ – là cái khung để huấn luyện tâm. Ý nghĩathực
sự của nó không thể tìm thấy trong
những dòng chữ này, mà phải đào sâu vào
trong tâm chúng ta. Giới, định, tuệ là như thế đấy. Chúng tiến triển liên tục. Bát Chánh Đạo sẽ mở rộng ra bao gồm bất cứ hình ảnh, âm thanh,
mùi, vị, cảm
giác hay đối tượng nào của
tâm (suy nghĩ, tưởng tượng…) được sanh khởi. Tuy nhiên,
nếu các chi
phần của Bát Chánh Đạo còn yếu ớt và
nhút nhát, phiền não sẽ thống trị tâm chúng ta. Nếu Bát Chánh Đạo mạnh
mẽ và dũng
cảm, nó sẽ xâm chiếm và tiêu diệt phiền não. Khi phiền não mạnh
và hung hăng, trong khi Đạo thì yếu ớt, phiền não sẽ
xâm chiếm đạo. Chúng xâm chiếm tâm chúng ta. Nếu chánh niệm, hay cái biết, không đủ nhanh và nhạy bén,
khi thân, cảm giác, nhận thức và
các suy
nghĩ được tiếp thu và cảm nhận, chúng sẽ chiếm hữu và tàn phá chúng ta.
Đạo và phiền
não tiến lên cùng lúc.
Khi thực
hành Pháp tiến triển trong
tâmchúng ta, hai lực lượng này chiến đấu, giành
giật với
nhau trên từng bước đi. Nó
giống như hai người đang cãi nhau trong
tâm chúng
ta, nhưng đó chỉ là Đạo Pháp và phiền não đang vật lộn với nhau để
giành quyền kiểm soát tâm. Đạo dẫn đường và tăng cường các khả năng của chúng ta để quán chiếu. Khi chúng ta có
thể quán
chiếu một cách chính xác, phiền não sẽ mất đất sống. Nhưng nếu chúng ta không kiên định,
mỗi khi phiền
não tái tập hợp lực lượng và lấy lại sức mạnh,
Đạo sẽ bị đánh bật và phiền não chiếm
chỗ. Hai bên sẽ tiếp tục chiến
đấu cho
đến khi cuối cùng một bên sẽ chiến thắng và toàn bộ vấn đề được giải quyết.
Nếu chúng ta tập trung sức cố gắng để tu tập con đường của
Pháp, phiền
não sẽ dần dần bị diệt tận. Khi tu tậphoàn
toàn đầy đủ, bốn sự thật cao thượng về khổ sẽ ở trong tâm ta.
Dù đau
khổ ở dưới bất cứ hình thức nào, nó có mặt bởi vì một nguyên nhân.
Đó chính là sự thật thứ
hai. Cái gì là nguyên nhân? Giới yếu kém, định yếu kém, tuệ yếu kém. Khi Đạo không đủ mạnh mẽ, phiền não ngự trị tâm. Khi chúng ngự trị, sự thật thứ hai vận hành,
và nó làm khởi lên tất cả mọi loại đau khổ. Khi ta đau khổ, những phẩm chất tâm có khả năng dập tắt đau khổ đã biến mất. Điều kiện để Đạo sanh khởi là giới, định, tuệ. Khi những phẩm
chất này có đầy đủ sức mạnh, con đường Pháp sẽ không thể dừng lại, nó sẽ
không ngừng tiến lên để vượt qua dính
mắc, chấp
thủ đã mang đếncho chúng ta quá nhiều đau khổ. Đau khổ không thể sinh nữa vì Đạo đã diệt tận
mọi phiền
não. Thời điểm đó, sự diệt tận phiền não xảy
ra. Tại sao Đạo có thể diệt tận
phiền não? Bởi vì giới, định, tuệ đã đạt đến đỉnh cao hoàn hảo,
Đạo đã đạt
được đà quán tính không thể dừng lại. Tất cả đều hội tụ cả lại
ở đây. Với bất cứ ai thực hànhnhư thế, tôi có thể nói rằng những hiểu biết lý thuyết về tâm của họ chẳng có tý giá trị nào trong đó. Nếu tâm đãđược giải thoát khỏi
những điều đó, nó hoàn toàn độc lập và vững vàng.
Giờ đây dù đi bất cứ con đường nào,chúng ta không
phải thúc ép nó để khiến nó thẳng tiến nữa.
Hãy xem cái lá xoài
kia; trông nó thế nào nhỉ? Chỉ cần xem xét một
chiếc lá thôi chúng ta sẽ
biết. Dù có cả vạn chiếc lá, chúng ta sẽ
biết tất cả chúng trông như thế nào. Chỉ cần nhìn một cái thôi, tất cả những
cái khác cơ bản đều y như thế
cả. Thân cây cũng thế, chúng ta chỉ
cần xem một gốc cây xoài là biết tất cả các gốc khác rồi. Chỉ cần nhìn một cây
thôi; tất cả các cây khác cơ bản cũng chẳng khác. Ngay cả hàng trăm ngàn cây,
tôi chỉ cần biết rõ một cây là có thể biết tất cả. Đó là điều Đức Phật đã dạy.
Giới, định, tuệ tạo
thành con
đường thực hành Pháp của Đức Phật.
Nhưng con
đường không phải là tinh túy của Pháp. Con đường, bản thân nó không phải là mục đích,
không phải là mục tiêu cuối cùng của Đức Thế Tôn.
Nó là con
đường hướng vào trong
mình.  Nó cũng giống như bạn đi từ thủ đô Bangkok đến ngôi chùa của tôi,
Wat Pah Pong. Bạn không phải đi vì con đường. Cái bạn muốn là đến chùa, nhưng bạn cần con đường để đi. Con đường bạn đi không phải là ngôi chùa. Nó chỉ
là con
đường để đến được đây.
Nhưng để đến được đây, bạn phảiđi theo nó. Giới, định, tuệ cũng y như vậy. Chúng ta có
thể nói nó không phải là tinh túy cốt lõi của
Pháp, nhưng nó là con đường để
đến đó. Khi giới, định, tuệ được tu tập hoàn hảo, kết quả sẽ là sự bình an sâu lắng của tâm. Đó là mục đích.
Khi đã đạt
đến sự bình an này, ngay cả khi nghe một tiếng động,
tâm vẫn bất
động. Một khi đã đến sự bình an tối thượng này,
chẳng còn việc gì phải làm nữa. Đức Phật dạy chúng ta buông bỏ tất cả. Bất cứ cái gì xảy đến, chẳng
có gì đáng phải lo lắng cả.
Khi đó chúng
ta sẽ thực sự tự mình
biết, không còn nghi ngờnữa. Chúng ta không
còn đơn
giản tin vào những gì
người khác nói nữa.
Nguyên tắc cốt yếu của đạo Phật là không có bất cứ sự thể hiện,
không có hiện
tượng nào. Nó không đặt
trên sự
thể hiện các khả năng kỳ diệu của thần thông, những năng lực siêu nhiên hay
bất cứ điều gì thần bí hay
lạ lùng.Đức Phật không cho những thứ đó là quan trọng.
Những năng
lực có tồn tại và có thể tu tập chúng, nhưngphương
diện này của pháp rất dễ
bị lừa dối, vì vậy Đức Phật không
tán thành hay khuyến khích nó. Người duy nhất ngài ngợi khen là những người đã tự giải thoát mình khỏi đau khổ.
Để thực hiện điều đó cần phải thực hành,
và những công cụ để làm việc đó là bố thí, giới, định, tuệ. Chúng taphải thực hành nó, huấn luyện tâm mình theo đó. Chúng kết hợp với nhau để tạo thành con đường hướng vào trong mình, và trí tuệ là bước đầu tiên. Con đường này không thể tiến triển nếu tâm vẫn còn bị che phủ bởi phiền não,
song nếu chúng
ta dũng cảm và
mạnh mẽ, Đạo sẽ loại bỏ hết
những ô
nhiễm đó. Tuy nhiên,
nếu phiền
não dũng cảm và mạnh mẽ hơn, nó sẽ hủy diệt Đạo. Thực hành Pháp chỉ đơn giản xoay quanh cuộc
chiến đấu không ngừng giữa hai lực lượng này cho đến khi
đến được điểm cuối của con đường. Chúng đánh nhau liên miên bất
tận cho
đến tận phút cuối cùng.
Những nguy hiểm của sự dính mắc
Sử
dụng những công cụ thực hành thường gian khổ và nhiều thử thách khó khăn. Chúng ta chỉ nương tựa vào sự kham nhẫn và kiên trì, và chẳng có gì nữa. Chúng ta phải tự mình thực hành,
tự mình kinh
nghiệm, tự mìnhchứng ngộ. Các nhà học giả Phật học,
tuy vậy, thường rất mơ hồ. Chẳng hạn, khi ngồi thiền,
mới có một chút xíu tĩnh lặng là họ bắt đầu suy nghĩ, “Hây, đây chắc là sơ thiền rồi”. Đó là cách tâm họ làm việc. Và
khi những suy nghĩ đó sanh khởi,
sự tĩnh lặng biến mất. Ngay sau đó họ lại nghĩ, chắc chắn là mình đã đạt đến nhị thiền.
Đừng có nghĩ
ngợi và suy đoán về nó như thế. Không có cái biển báo
nào cho chúng
ta biết mình đang chứng nghiệmtầng
thiền nào đâu. Thực tế hoàn toàn khác.
Chẳng có cái biển nào như cái biển trên đường, nói cho bạn biết: “Đường này đến
chùa Wat Pah Pong”. Đó không phải là cách đọc được tâm mình. Tâm chẳng thông báo cái gì cả.
Mặc dù có nhiều nhà học giả Phật học danh tiếng viết và mô tả cặn kẽ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền,
những gì họ viết chỉ là những thông tin bên ngoài. Khi tâm thực sự thể nhập vào những trạng thái tĩnh lặng sâu lắng đó, nó chẳng biết
tý gì về những điều được viết trong sách. Nó biết, nhưng cái nó biết chẳng
giống như trong sách. Nếu nhà học giả cố
bám chặt lý
thuyết của họ và lôi vào
trong thiền, vừa ngồi vừa ngẫm nghĩ “Hmmm…cái
này là cái gì nhỉ? Đã đến sơ thiền chưa
nhỉ?”. Ngay tại đó, sự tĩnh lặng tan tành mây khói, và họ chẳng kinh nghiệm được điều gì ích lợi cả. Vì sao thế? Bởi vì tâm tham, và
khi có tâm tham thì cái gì sẽ diễn ra? Ngay lập tức tâm
bị đẩy ra khỏi thiền. Vì vậy đối
với tất cả chúng ta, việc cần làm là từ bỏ tất cả mọi suy nghĩ và suy đoán.Buông bỏ chúng hoàn toàn.
Hãy tu
tập thân, khẩu, ý và hết
mình hoàn
toàn vào trong pháp hành. Quan sát sựhoạt động của tâm, nhưng đừng lôisách vở, kinh điển vào đó với bạn. Nếu không,
nó sẽ trở
thành một mớ lộn xộn khủng khiếp, bởi vì chẳng có cái gì
trong những cuốn sách ấy đúng với thực tế đang
diễn ra.
Những người nghiên cứu quá nhiều, những người đầy kiến thức lý thuyết thường không thành công trong việcthực
hành pháp. Họ mắc kẹt lại
ở mức độ thông tin. Sự thật là
không thể đo lường tâm chúng ta bằng
các tiêu
chuẩn bên ngoài. Nếu tâm
đang tĩnh lặng, hãy để yên cho
nó tĩnh lặng. Những tầng mức tĩnh lặng sâu lắng nhất thực sự có tồn tại. Cá nhân tôi chẳng biết nhiều về lý thuyết.
Khi xuất
gia đã được 3 năm mà trong
tâm tôi vẫn còn rất nhiều câu hỏi về định thực sự là gì. Tôi cố gắng suy nghĩ về nó và cố nghĩ ra khi ngồi thiền,
nhưng tâm tôi trở nên còn xáo động, bất an hơn
cả trước kia. Thực sự số lượng suy nghĩ đã
tăng lên rất nhiều. Khi không ngồi thiền, tâm tôi bình an hơn
rất nhiều. Các chàng trai ạ, nó quá khó, nó khiến mình giận điên lên! Nhưng mặc
dù gặp phải rất nhiều khó khăn, tôi không bao giờ từ bỏTôi
vẫn cứ tiếp
tục. Khi không cố gắng làm
gì đặc
biệt, thì tâm tôi lại thấy thoải mái. Nhưng mỗi khi tôi quyết tâm chú tâm vào định, nó lại vượt ra khỏi tầm kiểm soát.
“Cái gì đang diễn ra thế nhỉ?”, tôi tự hỏi mình, “Tại sao thế?”.
Về sau, tôi nhận ra rằng thiền cũng giống như việc thở.
Nếu chúng
ta quyết tâm bắt hơi thở phải nông, sâu hay vừa đúng, thì rất
khó làm. Nhưng khi chúng ta thong thả dạo
chơivà cũng chẳng biết khi nào mình thở vào haythở ra,
thì nó lại cực kỳ thoải mái. Vì vậy, tôi suy xét, “A ha, có thể đó chính là cách làm đúng”. Khi
một người điloanh quanh làm việc của họ một cách bình thường, không chú tâm vào hơi thở, thì hơi thở có
làm khổ họ được không? Không, họ chỉ cảm thấy thư
giãn thoải
mái. Nhưng khi tôi ngồi xuống và tự thề là sẽ làm cho tâm mình tĩnh
lặng, là dính mắc và chấp thủ nhảy
vào. Khi tôi cố ép hơi thở phải
nông hay sâu, tôi chỉ rước thêm mệt mỏi,bất an hơn cả trước đó. Vì sao? Bởi vì sức mạnh ý chí tôi sử dụng bị ô nhiễm bởi sự dính mắc và chấp thủ.
Tôi không biết cái gì đang diễn ra. Tất cả những khó khăn, bực bội, mệt mỏi đó đến bởi vì tôi đã mang tâm tham vào
trong thiền.
Sự bình an không lay động
Một
lần tôi ở một ngôi chùa rừng cách bìa làng
chừng nửa dặm. Một tối nọ, dân làng mở hội, ăn uống nhậu
nhẹt ầm ĩ trong khi tôi đang đi kinh hành trong
rừng. Lúc đó chắc phải hơn 11g đêm rồi, và tôi cảm thấy hơi là lạ trong mình. Tôi cảm thấy lạ như thế này từ lúc buổi trưa. Tâm
tôi rất tĩnh lặng. Hầu như không có
một suy
nghĩ nào. Tôicảm thấy rất
thư giãn và thoải mái. Tôi đi kinh hành cho đến khi cảm thấy mệt và vào ngồi thiền trong túp lều cỏ của tôi. Khi tôi vừa
ngồi xuống, còn chưa kịp bắt chân lên, thì thật kinh ngạc,
tâm tôi thể
nhập sâu vào một trạng thái vô cùng bình an.
Nó tự xảy đến. Khi tôi ngồi xuống, tâm thật sự vô cùng bình an. Vững vàng bất động như đá. Không phải là tôi không nghe
thấy tiếng ồn ào xa
xa của dân làng đang nhảy múa, ca hát – tôi vẫn có thể
nghe – nhưng tôi vẫn có thể hoàn toàn tách rời khỏi tiếng ồn ấy.
Rất kỳ lạ! Khi tôi
không chú ý đến tiếng ồn nữa, nó trở nên hoàn toàn yên
lặng – tôi không nghe thấy một tiếng gì cả. Nhưng nếu muốn, tôi vẫn có thể nghe được, mà chẳng bị nó quấy rầy.
Nó giống như có hai đề mục đang
đặt cạnh nhau trong tâm tôi, nhưng không chạm vào nhau. Tôi thấy rõ tâm và đối
tượng của chánh niệm hoàn toàntách biệt nhau, y như cái ống nhổ và ấm nước ở đây vậy. Khi
đó tôi hiểu ra rằng: khi đạt nhất tâm trong
định, nếu bạn hướng tâm ra bên ngoài, bạn có thể nghe, nhưng nếu bạn hướng vào
sự rỗng không của nó, nó sẽ hoàn toàn yên
lặng. Khi nghe âm thanh, tôi có thể thấy tâm hay biết và âm thanh hoàn toàn tách biệt nhau. Tôi nghĩ: “Nếu đây
không phải là cách nó vận hành, làm sao còn cách nào nữa?”. Đó chính là cách
của nó. Hai thứ đóhoàn toàn tách biệt. Tôi tiếp tục tìm hiểu nó như vậy cho đến khi hiểu biết của
tôi tiến sâu hơn nữa: “Điều này rất quan trọng. Khi sự liên tục của dòng tiếp nhận các đối tượng bị cắt đứt, kết quả là
sự bình an”. Ảo tưởng trước
đó về tính liên tục (santati) biến thành sự bình an của
tâm (santi). Tôi tiếp tục ngồi, tinh tấn hành thiền. Lúc đó tâm chỉ chú ý toàn bộ vào thiền, không quan tâm đến bất cứ gì khác. Nếu tôi dừng lại
vào thời điểm đó, thì chỉ vì một lý do duy nhất là thiền tập của tôi đã hoàn thành.
Tôi có thể nghỉ ngơi, nhưng đó hoàn toàn không
phải là vì lười biếng, mệt mỏi hay cảm giác khó chịu; tất cả những điều ấy đã vắng bóng trong tâm tôi. Chỉ có sự cân bằng và
tâm xả hoàn
hảo ở bên trong – vừa đủ,
vừa đúng mức.
Cuối
cùng tôi cũng nghỉ một lát,
nhưng đó chỉ là tư thế ngồi của cơ thể thay đổi. Tâm tôi vẫn miên mật, không
lay động, không mệt mỏi. Tôi kéo cái gối lại, định nằm nghỉ. Khi nằm
xuống, tâm tôi vẫn giữ nguyên sự tĩnh lặng như trước đó. Rồi khi đó, trước khi
đầu tôi chạm xuống gối, chánh niệm trong
tâm tôi quay
trở lại vào bên trong, tôi
không biết nó đi vào đâu,
nhưng nó cứ đi sâu dần sâu dần hơn nữa vào bên trong. Nó giống như dòng điện
chạy dọc theo dây dẫn đến một cái công tắc. Khi chạm công tắc, thân tôi nổ tung
với một tiếng nổ điếc tai. Cái tâm biết lúc đó vô cùng rõ ràng và vi tế. Khi đã đi qua điểm đó, tâm được giải phóng để thể nhập sâu
vào bên trong. Nó đi sâu vào đến một điểm mà chẳng có gì ở đó cả. Hoàn toàn không có một thứ gì ở thế giới bên ngoài đến được nơi đó. Không có
một thứ gì có thể chạm đến nó. Sau khi đã đi sâu vào bên trong một lúc, tâm rút
lui trở
lạira bên ngoài. Tuy nhiên, khi tôi nói tâm rút lui không có nghĩa là
tôi kéo nó trở ra. Tôi chỉ đơn giản là
một ngườiquan sát, chỉ hay biết và chứng kiến.
Tâm ra ngoài nhiều hơn đến khi trở lại bình thường.
Khi trạng thái tâm trở lại bình thường, một câu hỏi khởi lên: “Cái gì thế nhỉ?”. Câu trả lời đến ngay lập tức: “Những điều này tự đến theo chính nó.
Bạn không cần phải tìm
lời giải thích”. Câu trả lời đó
là đủ để làm tâm tôithỏa mãn.
Sau một lúc ngắn ngủi,
tâm tôi lại bắt đầu chảy vào trong. Tôi không cố gắng hướng
tâm mình đi đâu. Tự nó cất cánh. Khi đi sâu hơn nữa vào bên trong, nó lại đập
vào cái công tắc đó lần nữa. Lần này, toàn thân tôi
tan rã ra thành từng mảnh vụn và hạt nhỏ li ti. Tâm lại được giải phóng và
đi sâu vào bên trong chính nó. Hoàn toàn tĩnh
lặng. Nó còn tĩnh lặng sâu lắng hơn cả lần thứ nhất. Hoàn toàn không có một thứ gì có thể chạm đến
đó. Tâm ở lại đó một lúc, như nó muốn, rồi rút lui ra bên ngoài. Lúc đó nó đi theo quán tính của nó và tất cả tự diễn ra.
Tôi không tác động hay
định hướng cho tâm mình phải theo bất cứ cái gì, chảy vào trong hay rút lui ra
ngoài. Tôi chỉ là người biết và quan sát.
Tâm tôi lại trở lại trạng thái bình thường,
và tôi cũng không tự hỏi hay suy đoán về
những gì đang diễn ra. Tôi tiếp tục hành
thiền và tâm lại quay vào trong lần nữa. Lần thứ ba này, cả vũ trụ tan ra thành từng hạt vụn nhỏ. Trái
đất, núi non, ruộng đồng, rừng rậm, cả thế giới, tan rã vào trong hư không giới (ākāsa-dhātu). Con người biến mất. Tất cả mọi thứ đều biến mất.
Tất cả mọi thứ không có gì còn lại.
Sau khi đi sâu vào
trong, tâm an trú ở
đấy một lúc như nó muốn. Tôi không thể nói là tôi hiểu chính xác làm cách nào nó ở lại đó. Rất khó để diễn tả những gì diễn ra. Không có cái gì có
thể so
sánh được. Không có ví dụ
nàothích hợp. Lần này, tâm an trú trong đó lâu hơn lần trước nhiều, sau
một lúc nó mới trở ra trạng thái bình thường. Khi tôi nói, nó trở ra không có nghĩa là
tôi bắt nó trở ra hay tôi đang kiểm soát những
gì đang diễn ra. Tâm tự làm tất cả những việc ấy. Tôi chỉ đơn thuần là người quan sát. Cuối cùng nó cũng trở lại trạng thái tâm bình thường. Làm sao bạn có thể đặt tên cho
những gì diễn ra trong 3 lần đó? Ai biết? Bạn dùng thuật ngữ nào để dán nhãn cho nó?
Sức mạnh của tâm định

Tất cả mọi thứ tôi vừa
nói với các bạn là nói về cái tâm thuận theo tự nhiên. Đây không phải là sự diễn giải lý thuyết về tâm hay các tâm sở.
Việc đó là không cần thiết. Khi có đức tin, bạn sẽ đến đó và thực sự thực hànhnó.
Không phải là chạy quanh để chơi, mà bạn phải đặt cả cuộc đời mình vào con đường ấy. Và khi sự thực hành của bạn đạt đến giai đoạn như tôi vừa diễn tả,
thì sau đó cả thế giới sẽ hoàn toàn đảo ngược.
Sự hiểu
biếtcủa bạn về thực tại sẽ hoàn toàn khác. Cái nhìn của bạn đã chuyển hóa triệt để.
Nếu có ai đó nhìn thấy bạn lúc ấy, chắc họ sẽ nghĩ bạn bị điên. Nếu kinh nghiệm này xảy đến với một người không hiểu biết sâu sắc về chính mình, có lẽ họ sẽ
phát điên, bởi vì chẳng có gì giống như trước đó nữa cả. Mọi người trên thế giới này
trông dường như khác hẳn trước kia. Nhưng bạn là người duy nhất thấy được điều đó. Tất cả mọi thứ đã
thay đổihoàn toàn. Các suy nghĩ của bạn đã biến đổi. Mọi người nghĩ một hướng, bạn nghĩ theo hướng
khác. Họ nói về mọi thứ theo một cách, trong khi bạn nói theo cách khác. Họ
đang đi
xuống theo con đường này, trong khi bạn đang đi lên trên một con đường khác. Bạn không còn giống như những con người bình thường khác nữa.
Cách kinh nghiệm mọi thứ như thế này sẽ không bị suy
thoái mất. Nó còn lại và tiếp tục. Hãy thử đi. Nếu nó thực sự như tôi vừa mô tả,
bạn sẽ không phải đi tìm đâu xa nữa. Chỉ cần nhìn vào trong tâm mình thôi. Cái
tâm này vô
cùng dũng mãnh và kiên định.
Đó là nguồn sức mạnh và năng lượng của tâm. Tâm chúng ta có loại sức mạnhtiềm
tàng này. Đây là năng lượng và sức mạnh của tâm định.
Ở thời điểm này, nó
vẫn chỉ là sức mạnh và
sự thanh
tịnh mà tâm có được từ định.
Tầng mức định này là địnhtối hậu. Tâm đã đạt tới
đỉnh cao của định; nó không chỉ là mỗi sát na định[6].
Nếu bạn chuyển sang thiền Vipassāna ở thời điểm này, sự quán chiếu sẽ liên tục không gián đoạn và đầy tuệ giác.
Hoặc là bạn có thể sử dụng năng lượng tập
trung đó để dùng vào việc khác. Từ chỗ này trở đi, bạn có thể phát triển các
khả năng thần
thông, trình diễn các phép lạ hoặc sử dụng chúng
theo bất cứ cách nào bạn muốn.  Các ẩn sĩ và tu sĩ khổ hạnhthường sử dụng sức mạnh của định để làm nước thánh,
hay bùa chú… Những điều này có thể làm được khi đạt đến giai đoạn này, và có thể có một số lợi ích nhất định nào đó; nhưng nó cũng chỉ như ích lợi của rượu mà thôi. Bạn uống rượu và bạn
bị say rượu.
Mức định này là một
trạm nghỉ. Đức Phật nghỉ
ngơi ở đây. Nó tạo nền tảng cho việc quán chiếu và thực hànhthiền
Vipassāna. Tuy nhiên, không cần thiết phải đạt được những mức định thâm sâu như vậy để quan sátnhững
quan hệ nhân
duyên quanh ta, vì vậy hãy tiếp tục bền
bỉ quán
chiếu tiến trình nhân duyên.
Để làm điều đó,chúng ta tập trung sự tĩnh lặng và sáng suốt của tâm để phân tích mọi hình ảnh, âm thanh,
hương, vị, cảm giác, các suy nghĩ và cảm xúc đang kinh nghiệm. Xem xét và tìm hiểu các cảm xúc và trạng thái tâm của mình, xem nó là tích cực hay tiêu cực, hạnh phúc hay đau khổ. Tìm hiểu tất cả mọi thứ. Nó giống như một người
leo lên cây xoài và rung cây để làm rụng quả, trong khi chúng ta đứng ở dưới nhặt quả. Những quả thối, chúng ta không nhặt. Chỉ nhặt quả ngon. Chẳng
mệt tý nào, bởi vì chúng ta không
phải trèo cây. Chúng ta chỉ đơn giản đợi ở dưới mà nhặt.
Bạn có hiểu ý nghĩa của ví dụ ấy không? Tất cả mọi
thứ được kinh
nghiệm bởi một cái tâm
tĩnh lặng sẽ mang lạilợi ích lớn hơn. Chúng ta không còn tạo ra những suy đoán, suy nghĩ quanh những gì mình tiếp nhận, kinh nghiệm. Tài sản, danh vọng, chỉ trích, ca tụng, hạnh phúc và đau khổ tự
nó đến. Và chúng ta vẫn bình an. Chúng ta trí tuệ. Thực ra nó rất thú vị.
Chọn lọc và phân loại chúng trở thành công
việc thú
vị. Cái mọi người vẫn
gọi là tốt, xấu, đây, kia, hạnh phúc, đau khổ…tất cả chúng được chúng ta sử dụng để làm lợi cho mình. Có người đã trèo
lên cây xoài rung để quả rụng xuống cho chúng ta. Chúng ta chỉ đơn giản vui vẻ ở dưới nhặt mà chẳng phải sợ gì. Có
cái gì ở đó mà phải sợ cơ chứ? Người khác trèo và rung cây cho chúng ta đấy chứ. Tiền tài, danh vọng,
khen, chê, hạnh phúc và đau khổ chẳng khác gì những quả xoài rụng
xuống, chúng
ta xem xét, tìm hiểuchúng với một nội tâm tĩnh lặng. Khi đó chúng ta sẽ biết quả nào thối, quả nào ngon.
Thực hành thuận pháp
Khi chúng ta bắt đầu sử dụng sự tĩnh lặng và bình an đã phát triển trong quá trình thiền tập để quán chiếu những
đối tượng đó, thì trí tuệ sẽ sanh khởi.
Đó là cái tôi gọi là trí tuệ. Đó là thiền vipassāna. Nó không
phải là thứ có thểgiả mạo. Nếu chúng ta có trí, thiền vipassāna sẽ
phát triển một cách tự nhiên. Chúng ta không
phải đặt tên cho những gì đang diễn ra. Nếu chỉ có một chút tuệ giác rõ ràng, chúng ta gọi là “một ít thiềnvipassāna”.
Khi tuệ
giácrõ ràng lớn hơn một
chút, ta gọi là “vipassāna vừa phải”. Nếu hiểu biết hoàn toàn theo sự thật, chúng ta gọi
là “vipassāna tối hậu”. Cá nhân tôi
thích sử
dụng từ trí tuệ
(paññā) hơn là vipassāna. Nếu chúng ta nghĩ mình ngồi thiền lúc này, lúc kia để thực hành “thiềnvipassāna”, thì chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn với nó. Tuệ giác phải phát triển từ tĩnh lặng và bình an. Toàn bộ tiến trình sẽ tự diễn ra một cách tự nhiên theo chính nó. Chúng takhông
thể ép
buộc nó.
Đức
Phật dạy rằng tiến trình
này sẽ chín
muồi theo tốc độ riêng của
nó. Khi đã đạt đến trình độ này
trong pháp
hành, chúng ta để
cho nó được phát triển phù hợp với
những khả năng bên trong, với tầm mức tâm linh và
phước báu mà mình đã tích lũy trong quá khứ.
Song chúng
ta không bao giờ ngừng tinh tấn thực hành.
Sự tu
tậptiến triển nhanh hay
chậm nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta.
Nó cũng giống như trồng một cái cây. Cái cây tự biết cần phải lớn với tốc độ nào. Nếu chúng ta muốn nó lớn nhanh hơn cũng không được.
Muốn nó lớn chậm hơn cũng không được, phải nhận thấy rằng
cái muốn đó là ảo tưởng. Khi chúng ta làm
công việc, kết quả sẽ đến theo – cũng giống như trồng một cái cây.  Chẳng
hạn, chúng
ta trồng cây ớt. Trách nhiệm của chúng ta là
đào một cái lỗ, gieo hạt, tưới nước, bón phân và bắt sâu. Đó là công việc của chúng ta,
chỉ có thể làm được đến thế. Lúc này là lúc cần đến lòng tin.
Cây ớt có lớn hay không là tùy thuộc vào
nó. Không phải việc của chúng ta.Chúng ta không thể kéo cổ nó lên cho nó lớn
nhanh. Đó là công việc của tự nhiên. Công việc của chúng ta là tưới nước và bón phân. Thực hành pháp như vậy sẽ khiến cho tâm ta thoải mái và thanh thản.
Nếu chúng ta đắc đạo trong kiếp sống này thì cũng tốt. Nếu chúng ta phải chờ cho đến kiếp sau thì cũng chẳng sao. Chúng ta đặt lòng tin không
lay chuyển vào pháp. Tiến bộ nhanh
hay chậm là tùy thuộc ở
các khả năng nội tại, tầm mức tâm linh và
phước báu mình đã tích lũy từ
trước tới nay. Thực hành như
thế sẽ khiến tâm mìnhthanh thản, bình an.
Giống như đi xe ngựa. Chúng ta không
đặt cái xe ở đằng trước con ngựa. Hay giống như cày ruộng mà để cái cày đi trước con trâu. Cái tôi đang nói ở đây là
cái tâm cứ muốn tự vượt chính mình. Nó luôn nóng lòng muốn
đạt kết quả nhanh. Đừng để cái cày đi trước con
trâu. Bạn phải để cày đi sau con trâu.
Nó cũng giống như cây
ớt chúng
ta đang trồng. Tưới nước
và bón phân cho nó, và nó sẽ làm công việc tiêu thụcác chất dinh dưỡng ấy. Khi sâu bọ đến phá hoại thì ta đuổi chúng đi. Chỉ cần làm như
vậy là đủ để cây ớt tự nó lớn tốt, và khi nó đã lớn, đừng có cố ép nó phải ra
hoa chỉ vì chúng ta nghĩ
bây giờ là lúc nó nên ra hoa. Đó không phải là việc của chúng ta.
Điều đó chỉ tạo nên những cái khổ vô ích mà
thôi. Hãy để nó tự ra hoa. Khi nó đã có hoa, đừng đòi hỏi nó phải cho ra quả ớt
ngay. Đừng dựa vào sự
cưỡng ép. Điều đó thực sự mang đến đau khổ. Khi đã hiểu ra vấn đề, chúng ta sẽ thấy cái gì là trách nhiệm của mình và cái gì không phải. Mỗi thứ
đều có nhiệm
vụ cụ thể để hoàn thành.
Tâm biết vị
trí và nhiệm vụ của nó trong công việc. Nếu tâm không hiểu nhiệm vụ của
nó, nó sẽ cố ép cây ớt phải ra quả vào đúng cái ngày chúng ta trồng nó. Tâm cứ nằng nặc muốn nó phải
lớn, phải ra hoa và đậu quả tất cả trong một ngày.
Điều đó chẳng là gì
khác ngoài sự thật thứ
hai về khổ: tham là nhân sanh khổ. Nếu chúng ta ý thức về sự thậtnày
và suy
xét đến nó, chúng ta sẽ hiểu rằng cố gắng cưỡng ép kết quả trong khi thực hành pháp thì chỉ là tâm si. Sai lầm.
Hiểu cách hoạt động của
nó, chúng
ta buông bỏ và
để cho mọi thứ chín muồi thuận theo những
khả năng nội tại, tầm mức tâm linh và
phước báu ta đã tích lũy. Chúng ta tiếp tục làm
phần việc của chúng ta. Đừng lo rằng việc đó cần một thời gian dài. Kể cả phải cần đến hàng trăm hay
hàng ngàn kiếp sống để đắc đạo, thế thì đã sao? Dù phải cần đến bao nhiêu
kiếp sống chăng nữa, chúng ta vẫn tiếp tục thực hành với một cái tâm thanh thản,
nhẹ nhàng và thoải mái với
tốc độ của mình. Một khi tâm đã nhập dòng (đắc Thánh quả đầu tiên), thì chẳng còn gì phải lo sợ
nữa. Nó sẽ vượt lên trên ngay cả những nghiệp bất thiện nhỏ
nhất. Đức
Phật nói tâm của một vị
Thánh Tu
Đà Hoàn, người đã đạt đến tầng giác ngộ đầu tiên, đã nhập vào dòng chảy của
Pháp đến giác
ngộhoàn toàn. Những vị ấy sẽ không còn phải rơi vào những khổ cảnh thấp kém,
không bao giờ rơi vào địa ngụcnữa. Làm sao có thể rơi vào địa ngục khi tâm họ đã từ bỏ những điều bất thiện? Họ đã thấy sự
nguy hiểm khi tạonghiệp bất thiện. Ngay cả khi
bạn cố ép họ làm hay nói những
điều bất
thiện, họ cũng không thể làm được, vì vậykhông có cơ hội để họ rơi vào địa ngục hay những cảnh giới thấp kém.
Tậm họ đã hòa vào dòng chảy của Pháp.
Khi đã ở trong dòng
chảy đó, bạn sẽ biết đâu là trách nhiệm của
mình. Bạn hiểu rõ được
công việc trước mắt. Bạn đã hiểu cách thực hành pháp.
Bạn biết khi nào cần phải cố gắng hết
mình, khi nào cần thư giãn. Bạn hiểu rõthân tâm mình,
các tiến trình thân-tâm, bạn từ bỏ những
gì cần từ
bỏ, liên tục từ bỏ không
còn chút nghi
ngờ nào nữa.
Thay đổi cách nhìn

Trong cuộc đời tu tập,
tôi chưa
bao giờ cố để thành thạo
nhiều đề
mục thiền khác nhau. Chỉ
có một mà thôi. Tôi thanh lọc tâm mình. Khi chúng ta nhìn
vào một cái thân nào đó. Nếu chúng ta thấy
mình bị cuốn hút bởi một thân hình, hãy phân tích nó xem. Hãy nhìn thật kỹ:
tóc, lông, móng, răng, da… Đức Phật dạy chúng ta quán chiếu thật kỹ, thật nhiều lần những bộ phận
ấy. Tưởng tượng chúng một cách riêng rẽ, tách chúng ra, bóc lớp da ra và thiêu
cháy chúng. Đó là cách phải thực hành. Gắn chặt vào cách thực hành đó cho đến khi
nó vững
vàng và ổn định. 
Nhìn tất cả mọi người đều
như vậy. Chẳng hạn khi các vị sư đi khất thực trong
làng, bất cứ ai họ thấy – dù là một vị sư khác hay dân làng – hãy nhìn họ như
những xác
chết, những cái xác đang ngất ngưởng bước đi trước mặt. Duy trì chú tâm vào
sự tưởng tượng này. Đó là cách chúng ta tinh tấn. Nó sẽ dẫn đến sự phát triển và chín muồi.
Khi nhìn thấy một cô gái trẻ mà bạn thấy hấp dẫn, hãy tưởng tượng đó là một cái xác chết biết đi,thân
thể đang thối rữa, mưng
mủ. Hãy nhìn tất cả mọi người như
vậy. Và đừng để họ đến quá gần mình! Đừng để si mêcòn vương vấn trong tâm bạn.
Nếu bạn nhìn mọi người như
những xác
chết đang thối rữa, tôi đảm bảolà si mê chẳng còn trong tâm bạn nữa. Quán chiếu cho đến khi bạn chắc chắn về những gì mình thấy, cho đếnkhi
nó rõ
ràng, đến khi bạn đã thuần thục. Khi đó bất cứ con đường nào bạn bước vào, bạn cũng sẽ không
còn bị lạc nữa. Hãy thực hành với
tất cả trái tim. Bất cứ khi nào bạn nhìn một ai đó, không khác gì nhìn một cái
xác. Dù là đàn ông hay đàn bà, nhìn người đó như một xác chết.
Và đừng quên nhìn chính mình như một xác chết nữa.Cuối cùng tất
cả những gì còn lại chỉ là như thế. Cố gắng tập
cách nhìn này một cách kỹ lưỡng. Tập cho đến khi
nó trở
thành một phần của tâm
bạn. Tôi hứa là các bạn sẽ cảm thấy rất thú vị khi thực sự thực hành như thế. Nhưng nếu bạn chỉ bận rộn đọc
những điều đó ở trong sách thì sẽ khó lắm đấy. Bạn phải thực sự thực hành.
Vàthực hành với
lòng chân
thành hết mực. Thực hành cho đến khi phương pháp thiền
đó trở
thành một phần của bạn.
Hãy lấy mục
đích giác ngộ sự thật làm mục đích cho mình. Nếu động cơ của bạn là tu để
thoát khổ, thì khi đó bạn mới ở trên con đường chánh.
Ngày nay có rất nhiều
người dạy thiềnvipassāna và rất nhiều kỹ thuật thiền khác nhau. Tuy nhiên,
theo ý
kiến của tôi, thực hành thiềnvipassāna không dễ tý
nào. Chúng
ta không thể nhảy vào thực hành nó ngay lập tức. Bạn sẽ không thể thực hành được nếu không có
một tiêu
chuẩn đạo đức cao.
Hãy tự mình tìm hiểu điều
đó. Kỷ luật vàgiới hạnh là điều cần thiết,
bởi vì nếu lời nói, suy nghĩ và
hành động của bạn không trọn vẹn thì
sẽ không bao giờ có thể tự đứng trên đôi chân của mình được. Thực hành thiền mà không có giới hạnh đi kèm thì cũng giống như cố bỏ qua
một phần cốt yếu của đường đạo. Bạn cũng thỉnh thoảng nghe
người này người kia nói: “Bạn khôngcần phải phát triển định tâm.
Hãy bỏ qua và đi thẳng vào
thiềnvipassāna”. Những con người nóng
vội, bất cẩn vốn thích đi tắt đón đường thường hay nói
như vậy. Họ nói bạn không cần phải bận
tâm đến giới. Giữ giới và
thanh lọc giới hạnh của
mình là một thử thách, không phải chuyện chơi.  Nếu có thể bỏ qua tất cả những lời dạy về giữ giới,
chắc hẳn sẽ dễ hơn với chúng ta đúng
không? Mỗi khi gặp khó khăn, chúng ta chỉ
tránh né bằng cách bỏ qua nó. Tất nhiên, chúng ta ai
cũng thích bỏ qua những miếng khó nhằn như thế.
Một
lần có một vị sư đến nói với tôi rằng anh
ta là một thiền sinh đích
thực. Anh ta xin phép ở lại đây với tôi và hỏi tôi về chương trình sinh hoạt,
phép tắc trong chùa. Tôi giải thích với
anh ta rằng trong ngôi chùa này chúng tôisống theo giới luật của chư tăng,
và nếu muốn ở lại phải xả bỏ mọi tiền bạc và vật dụng cá nhân tự
sắm. Anh ta nói với tôi rằng cách thực hành của
anh ấy là “không dính mắc với mọi quy ước chế
định”. Tôi bảo tôi không hiểu anh ta muốn nói gì. Anh ta đề nghị “thế nếu tôi ở
đây, vẫn giữ tiền của mình
nhưng không dính mắc với nó thì sao. Tiền cũng chỉ là quy ước thôi mà”. Tôi nói, được, không vấn đề gì. “Nếu bạn có thể ăn muối mà không cảm thấy mặn, khi đó bạn có thể sử dụng tiền mà không bị dính mắc vào nó”. Anh
ta nói rất vô lý. Thực ra, anh ta lười không muốn giữ mọi giới luật chi tiết.
Tôi nói với các bạn, nó rất khó. “Khi bạn ăn muối và thành thực nói rằng nó không mặn, được rồi, tôi
tin lời bạn. Nếu bạn nói không mặn, vậy tôi đưa bạn cả bao muối. Hãy ăn thử xem. Có thực nó không mặn không? Không
dính mắc với quy ước chế
định là cách
ăn nói ma lanh, trơn tuột.
Nếu bạn nói với tôi như thế thì bạn không ở lại đây được”. Vậy là anh ta bỏ đi.
Chúng
ta phải cố gắng và duy trì việc thực hành giới.
Tu sỹ nên huấn luyện bằng cách thử thọ các hạnh đầu đà,khổ hạnh,
trong khi cư sỹ tại gia nên
giữ năm
giới. Cố gắng đạt được sự hoàn hảo trong tất cả mọi lời nói và hành động của mình. Chúng ta cần tu tập các thiện pháp với hết khả năng của mình, và tiếp tục đều đặn làm điều đó.
Khi bắt đầu tu tập thiền chỉ, đừng phạm sai lầm là chỉ cố gắng một, hai lần rồi bỏ chỉ vì tâm mình
không an. Đó không phải là cách tu đúng. Bạn phải tu tập cả một thời gian dài. Tại sao phải cần thời gian dài như thế? Hãy nghĩ mà xem. Bạn đã để tâm mình bay nhảy trong bao nhiêu năm rồi?
Và bạn đã hành thiền được bao nhiêu năm rồi? Mỗi khi tâm ra lệnh cho mình đi,
là chúng
ta vội vàng lao
theo nó. Để bình ổn lại cái tâm phóng chạy lung tung đó,
để nó phải dừng lại, tĩnh lặng trở lại, chỉ có vài tháng hành thiền thì không đủ. Hãy suy xét đến điều đó.
Khi bắt đầu tu tập để tâm trở nên bình an trong mọi hoàn cảnh,
xin hãy hiểu rằng lúc ban đầu, khi các cảm xúcphiền não sanh
lên, tâm sẽ không thể bình an. Nó sẽ bị phân tán và mất kiểm soát.
Vì sao? Bởi vì ái dục (tìm kiếm sự thỏa mãn và kích thích giác quan). Chúng ta không
muốn tâm mình nghĩ. Chúng ta không
muốn có bất cứ một cảm xúc hay trạng thái tâm nào khiến mình bị phân tán. Không
muốn là ái
dục, khao khát sự không hiện hữu (phi hữu ái). Chúng ta càng không muốn có thứ gì đó thì thực ra là lại càng mời gọi và dẫn nó đến.
“Tôi không muốn những thứ đó, sao nó cứ đến với tôi? Tôi muốn nó không như vậy,
mà sao nó cứ như vậy hoài?”. Đó, chúng ta cứ
thế. Chúng
ta khao khát mọi thứ phải tồn tại theo một cách nhất định,
bởi vì chúng
ta không hiểu tâm mình.
Phải cần một thời gian dài,
dài đến mức không tin nổi để nhận ra rằng
chơi với những thứ đó là sai lầm. Cuối cùng, khi nhìn nó một cách rõ ràng, chúng ta thấy “À, thì ra những thứ đó đến bởi vì
mình gọi chúng đến”.
Mong muốn không phải
có một cái gì đó, tham muốn được
bình yên, tham muốn không
bị phóng tâm và xáo động – tất cả chỉ là tham muốn. Tất cả chỉ là một cây sắt nóng đỏ. Nhưng
không cần
phải lo. Chỉ cần tiếp tụcthực
hành. Mỗi khi có một cảm xúc hay trạng thái tâm nào đó, hãy xem xét nó trên những tính chất vô thường,
khổ, vô
ngã và ném nó vào một
trong ba danh
mục ấy. Rồi suy xét và tìm hiểu: những cảm xúc phiền não ấy
hầu như luôn luôn đi cùng với những dòng suy nghĩ quá mức. Bất cứ chỗ nào một trạng thái tâm dẫn đến, chỗ ấy cósuy nghĩ kéo
đàn kéo lũ đằng sau. Suy nghĩ và trí tuệ là hai cái rất khác nhau. Suy nghĩ chỉ phản ứng và
theo đuôi các trạng thái tâm
và chúng kéo dài vô tận. Song nếu trí tuệ hoạt động, nó sẽ mang đến sự
tĩnh lặng cho tâm. Tâm sẽ dừng lại và chẳng đi đâu nữa cả. Ở đó đơn giản chỉ có sự hay biết và ghi nhận những gì đang diễn ra: khi cảm xúc đến thì nó như thế này, khi cảm xúc đi thì nó như thế này. Chúng ta duy trì “cái biết” đó.  Cuối cùng,
điều sẽ xảy đến là: “Ô này, tất cả những suy nghĩ này,
những mấu đối thoại vô mục đích này,
những lo
lắng và những đánh giá,
phán xét này – tất cả chúng thật là vô nghĩa. Tất cả chúng đều vô thường,
bất toại
nguyện và không phải là
tôi, không phải của tôi”. Vứt nó vào một trong ba danh mục tổng quát ấy, và dập tắt sự nổi dậy của chúng. Bạn cắt đứt tất
cả mọi nguồn sống của chúng. Sau đó, khi chúng ta ngồi thiền, chúng lại đến nữa. Hãy nhìn nó thật kỹ.
Hãy điều
tra nó, dò xét nó.
Nó giống như khi bạn chăn trâu.
Có ruộng lúa, có trâu và có người chăn trâu. Bây giờ trâu muốn ăn lúa. Trâu thường thích
ăn lúa đúng không? Tâm bạn là con trâu. Các cảm xúc phiền não là
lúa. Chánh
niệm (cái biết) là người chăn trâu. Thực hành pháp giống như vậy. Không khác tý nào. Bạn
hãy tự so
sánh mà xem. Khi chăn trâubạn
làm gì? Bạn thả nó, cho nó đi lại tự do, nhưng luôn để mắt canh chừng nó. Nếu nó đến gần ruộng lúa, bạn quát nó. Khi con trâu
nghe tiếng, nó liền quay đi. Nhưng bạn đừng lơ đãng, đừng lơ là với con trâu. Nếu bạn có con trâu cứng đầu,
quát không chịu nghe lời, bạn phải cầm cây roi và vụt cho nó một cái
vào mông. Khi nó nó sẽ không dám bén mảng đến ruộng lúa nữa. Nhưng đừng có thả
rông trâu mà đi ngủ trưa. Nếu bạn nằm xuống và ngủ quên, thì cái
ruộng lúa ấy chỉ còn là lịch sử. Thực hành pháp cũng y như vậy: bạn canh chừng tâm mình; cái biết
sẽ chăn cái tâm.
“Người biết canh tâm
mình sẽ thoát
khỏi lưới Ma Vương”. Tuy nhiên,
cái biết ấy cũng chính là tâm, thế thì ai đangquan sát tâm? Những ý tưởng như vậy có thể khiến bạn cực kỳ rối
trí. Tâm là một thứ; cái biết là thứ khác; nhưng cái biết ấy lại xuất phát từ chính cùng một cái tâm. Vậy thế nào
là biết tâm mình? Đối diện với
các cảm
xúc và trạng thái tâm là thế nào? Khi không có cảm xúc phiền não thì như thế nào? Cái hiểu tất cả những
điều đó, chính là “cái biết”. Cái biết quan sát tâm,
và từ cái biết này, trí tuệ sẽ
khởi sanh. Tâm là cái suy nghĩ và
bịmắc kẹt trong
các cảm
xúc, cái này theo sau cái
khác – giống y như con
trâu của chúng
ta. Bất cứ hướng nào nó lang thang tới, hãy luôn để mắt đến nó. Làm thế
nào mà nó lang thang đi mất? Nếu nó bén mảng đến ruộng lúa, hãy quát nó. Nếu nó
không nghe
lời, nhặt cây roi và quất nó một cái. Đó chính là cách bạn vô hiệu hóa ái dục.
Huấn luyện tâm mình
cũng không khác. Khi tâm có một cảm xúc và ngay lập tức bám víu vào cảm xúc ấy,
công việc của “cái biết” là dạy nó. Hãy kiểm tra, xem xét trạng thái tâm
ấy xem nó là tốt hay xấu. Giải thích cho
tâm biếtnhân quả đang hoạt động như
thế nào. Và khi tâm lại túm lấy một cái gì đó mà nó nghĩ là hay, “cái biết” lại
phải dạy nữa, lại giải thích thế
nào là nhân
quả, cho đến khi
tâm buông
bỏ cái nó đang dính mắc.
Điều này sẽ đem đến sự bình an cho
tâm. Sau khi đã thấy ra bất cứ cái gì nó bám víu và
dính mắc đều là không đáng mong cầu, tâm sẽ tự động dừng lại. Nó không thể bị
những thứ đó quấy rối nữa,
bởi vì liên
tục bị la mắng và khiển trách. Hãy quyết tâm chặn đứng ái dục trong tâm mình. Hãy truy tìm và đối diện với nó đến tận căn nguyên gốc rễ, cho đến khi giáo pháp thẩm thấu vào
trong tim. Đó là cách bạn huấn luyện tâm mình.
Kể từ khi bước chân
vào rừng sâu tu tập, tôi toàn thực hành
như vậy. Khi dạy học trò, tôi cũng dạy họ thực hànhnhư vậy. Bởi vì tôi muốn họ thấy sự thật,
chứ không phải chỉ đọc những gì ghi trong kinh điển; tôi muốn họ thấy rõ xem tâm mình đã được giải
thoát khỏi suy nghĩ hay chưa. Khi được giải
thoát, bạn sẽ biết; nếu chưa giải thoát, thì hãy quán chiếu tiến
trình nhân
quả, nhân này dẫn đến quả kia như thế nào. Quán chiếu cho đến khi bạn biết và hiểu nó thật kỹ càng.
Khi đã được xuyên thấu bởi tuệ giác,
nó sẽ tự rơi rụng đi. Khi cái gì đến với bạn vàmắc kẹt lại, hãy tìm hiểu nó. Đừng từ bỏ cho đến khi nó thả cái gọng kìm đang kìm kẹp
mình ra. Hãy liên tục tìm hiểu ở
ngay tại chỗ này. Đối với tôi, đây chính là cách tôi đến với giáo pháp,
bởi vì Đức
Phật dạy chúng ta phải tự mình hiểu. Tất cả các bậc
thánh đều tự mình hiểu chân lý.  Bạn phải phát hiện nó ở trong chiều sâu
của chính
tâm bạn. Hãy tự biết
mình.
Nếu bạn tự tin về
những gì mình hiểu và tin tưởng bản thân mình,
bạn sẽ cảm
thấy rất bình thản khi có
ai đó chỉ
trích hay tán dương bạn. Người ta nói bất cứ điều gì, bạn
cũng sẽ thấy bình thản, thoải mái. Tại sao? Bởi vì bạn tự biết mình.
Nếu ai đó tâng bốc bạn lên mây xanh, trong khi thực sự bạn không như thế, thì
bạn có tin lời họ không? Tất nhiên không rồi.
Bạn chỉ đơn
giản tiếp tục thực hành pháp. Những người không tự tin vào những gì
mình biết, khi họ được ca tụng, họ vội vàng tin
vào điều đó và dựng nên ảo tưởng về
chính mình. Cũng vậy, khi có ai đó chỉ trích bạn,
hãy tự nhìn lại và kiểm tra lại
chính mình. “Không, những gì họ nói không đúng. Họ nói tôi sai, tôi xấu, nhưng
thực sự tôi không phải như vậy. Lời chỉ trích của
họ không có giá trị gì
hết”. Trong trường hợpnhư thế, tức giận với họ có ý nghĩa gì? Lời nói của
họ không đúng. Nếu chúng ta thật
sự có lỗi như họ nói, thì lờichỉ trích của họ là đúng. Trong trường hợp ấy, tại sao lại tức giận với họ? Khi
bạn có thể nghĩ được như thế, cuộc sống sẽ thực sự không còn rắc rối và sẽ rất thoải mái, thanh thản.
Chẳng có gì sai cả. Khi đó, tất cả mọi thứ đều là Pháp. Đó là cách tôi thực hành.
Con đường giữa (trung đạo)

Đó là con đường ngắn nhất và thẳng nhất. Bạn đến và tranh luận với tôi về Phật Pháp,
nhưng tôi sẽ không tham gia đâu.
Thay vì tranh
luận lại, tôi chỉ nói lên
một số suy
nghĩ để bạn xem xét.
Hãy hiểu lời Đức Phật dạy: buông bỏ tất cả. Buông bỏ với chánh niệm và
cái biết. Không có chánh niệm và
cái biết, buông bỏ như
thế cũng chẳng khác gì với sự buông bỏ của
trâu bò. Không để tâm mình
vào đó thì sự buông bỏ ấy
là không đúng. Bạn buông bỏ bởi
vì bạn đã hiểu được cái thực tại chế
định, cái quy ước do con người đặt ra. Đó mới là không dính mắc.Đức Phật dạy,
trong giai đoạn đầu thực hành pháp, bạn phải cố gắng rất nhiều, phát triển mọi phẩm chất
tâm một cách kỹ lưỡng và phải gắn bó thật
nhiều. Gắn
bó với Phật. Gắn bó với Pháp. Gắn bó với Tăng. Gắn bó một cách sâu sắc và vững chắc.
Đó là những gì Đức Phật dạy. Gắn bó một cách chân thành,
chặt chẽ, kiên trì và
nhẫn nại.
Trong quá trình đi tìm kiếm chân lý,
tôi đã thử hầu hết mọi cách thức quán chiếu. Tôi hy sinh cuộc đời mình
vì Pháp, bởi vì tôi có lòng tin vào
sự giác
ngộ và vào con đường đi đến đó. Những điều này thực sự tồn tại,
nhưĐức Phật đã
từng nói, chúng có thật. Nhưng để chứng nghiệm được
điều đó cần
phải có sự thực hành, thực hành đúng. Bạn phải cố gắng hết khả năng của mình. Phải có nghị lực và dũng cảm để tu tập,
để suy
xét và đểchuyển hóa triệt để. Phải có đủ dũng cảm để
thực sự làm những việc cần làm. Và bạn làm như thế nào? Huấn luyện tâm mình.
Các suy
nghĩ trong đầu bảo rằng chúng ta phải đi theo hướng
này, nhưng Đức Phật bảo chúng ta phải đi hướng khác. Tại sao cần phải huấn luyện tâm? Bởi vì tâm mình vốn bị
chìm ngập và che phủ bởi phiền não. Một cái tâm chưa được chuyển hóa nhờ tu tập là
như thế. Nó không đáng tin cậy
tý nào, vì
vậy đừng có tin nó. Nó
chưa phải là trong sáng và thánh thiện.
Làm sao chúng
ta có thể tin một cái tâm không thanh tịnh và thiếu sáng suốt? Vì vậy, Đức Phật dạy chúng ta chớ
có đặt lòng
tin ở một cái tâm phiền não và ô nhiễm. Lúc ban đầu,
tâm chỉ là tay sai của phiền não, nhưng nếu chúng đi cùng với nhau một thời gian dài,
tâm sẽ tựchuyển hóa để trở thành chính phiền não
.
Chính vì thế Đức Phật dạy chúng ta chớ có tin cái tâm mình.
Nếu nhìn kỹ vào giới luật xuất gia, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả là để huấn luyện
tâm mình. Và bất cứ khi nào huấn luyện tâm, chúng ta đều cảm thấy bức bối và khó chịu. Khi vừa cảm thấy bức xúc, khó chịu, chúng ta đã bắt đầukêu
ca: “Này ông bạn, thực hành thế
này khó quá! Không làm nổi”. Nhưng Đức Phật không
nghĩ như thế. Ngài cho rằng khi sự tu tập làm chúng ta cảm thấy bức bối và khó chịu, điều đó có nghĩa
là chúng
ta đang thực hànhđúng.
Nhưng chúng
ta thường không chịu nghĩ
như thế. Chúng
ta nghĩ rằng đó là dấu
hiệu cho thấy có cái gì đó sai. Cái hiểu sai lầm này
là cái làm cho sự thực hành của chúng ta trở thành khó khăn đến vậy. Lúc đầu, chúng ta cảm thấy bức bối, khó chịu, vì vậy chúng ta nghĩ mình thực hành sai. Tất cả mọi người đều muốn cảm thấydễ
chịu, nhưng họ lại ít quan tâm đến
việc nó đúng hay sai.
 Khi chúng ta đi
ngược lại ý muốn của phiền nãovà
thách thức ái dục, thì tất nhiên chúng ta phải cảm thấy khổ
sở. Chúng
ta cảm thấy bức
bối, khó chịu, bực mình và
rồi bỏ cuộc. Chúng ta nghĩ
mình đã đi sai đường. Tuy nhiên, Đức Phật nói
mình đang đi đúng. Chúng tađang đối mặt với phiền não của mình, và nó chính là cái đang cảm thấy bức xúc và khó chịu. Nhưng chúng ta thì lại cứ nghĩ mình bức xúc, mình khó
chịu. Đức
Phật dạy đó chính là phiền não đang bị quậy tung lên và khó chịu. Nó y như vậy đối với tất cả mọi người.
Đó là lý do việc thực hành pháp đòi
hỏi rất cao. Mọi người thường
không chịu xem xét mọi việc một
cách rõ
ràng. Thông thường, họ hay đi chệch sang một trong hai hướng là đắm chìm dục lạc hoặc tự hành xác
mình. Họ mắc
kẹt trong hai cực đoan này. Một mặt họ muốn chiều theo mọi
đòi hỏi hưởng thụ của tâm mình. Thích cái gì là làm cái ấy. Họ thích ngồi tiện nghi và thoải mái. Họ thích nằm ườn và duỗi dài một cách lười
biếng. Bất cứ cái gì họ làm, họ cũng đều tìm cách làm
sao cho được thoải mái. Đó là sự đắm chìm trong hưởng thụ dục lạc: bám víuvào cảm giác dễ chịu.
Đắm chìm như vậy thì làm
sao tiến
bộ được trong pháp hành?
 Khi không chìm đắm trong sự hưởng thụ dục lạc và cảm giác dễ chịu, chúng ta cảm thấy bứt rứt không
yên.Chúng ta thất vọng, tức giận và phát khổ phát sở vì điều đó. Đó
là rơi khỏi con đường giữa
để sang cực
đoan tự hành xác
mình. Đó không phải là con đường của
các bậc thánh an tịnh, không phải con đường của
những ngườibình an. Đức Phật cảnh báo chúng ta đừng để rơi vào một trong hai cực đoan đắm chìm hưởng thụ và tự hànhxác
như vậy. Khi có cảm giác dễ chịu, hãy hay biết nó với chánh niệm.
Khi có tâm sân, ác ý, bất an, hãy hiểu rằng bạn không còn đi theo con đường của Đức Phật nữa.
Đó không phải là con đường của
người đi
tìm chân lý, nó là con đường của
người đời. Một nhà sư bình an không đi xuống con đường ấy. Họ đi thẳng con đườnggiữa,
giữa một bên là hưởng thụ dục lạc và
một bên là tự hành xác.
Đó là sự thực
hành đúng.
Nếu bạn muốn tu tập trong cuộc đời xuất gia,
bạn phải đi
theo con đường trung đạo, không để hạnh phúc hayđau khổ làm động tâm mình. Hãy đặt chúng
xuống. Nhưng nó cảm giác như
là chúng đang đá bạn lộn qua lộn lại.  Đầu tiên nó đá ta từ bên này, “Ái
chà!”, rồi nó lại đã tiếp từ bên kia, “Ối giời!”. Chúng ta thấy mình như cái mõ gỗ, bị đánh chao
qua chao lại từ bên này qua bên kia. Trung đạo là buông bỏ cả hạnh phúc lẫn đau khổ,
và cáchthực hành đúng là thực hành theo con đường giữa.
Khi sự khao khát hạnh phúc đập
ta và chúng
ta không làm nó thỏa mãn, chúng ta sẽ cảm thấy đau đớn.
Đi
theo con
đường trung đạo của Đức Phật rất gian khổ và đầy thử thách.
Chỉ có hai cực đoan tốt
và xấu đó mà thôi. Nếu ta tin vào những gì chúng nói, chúng ta sẽ phải làm theo mệnh lệnh của chúng.
Nếu ta tức giận một ai đó, ngay lập tức chúng ta đi
tìm một cây gậy để đập người ta. Không chút nhẫn nại. Khi yêu một ai đó, chúng tamuốn
chăm sóc cô ấy/anh ấy từ đầu đến chân. Tôi nói có đúng không? Hai thái cực ấy hoàn toàn trượt
quatrung đạo. Đó không phải là điều Đức Phật dạy. Lời dạy của ngài là dần dần buông bỏ những thứ đó xuống. Cáchthực hành của
Ngài là con
đường thoát ra khỏi luân hồi,
không còn tái sanh nữa
– một con
đường vượt ra khỏi sự trở thành, sanh hữu,
vượt ra ngoài hạnh phúc và đau khổ,
tốt và xấu.
Những người khao khát sinh tồn thường mù quáng,
không thể nhìn thấy trung đạo. Họ rơi khỏi trung đạo về phía hưởng thụ và rồi lại trượt qua trung đạo sang phía bất an và bất toại nguyện.
Họ lien tục bỏ qua điểm giữa. Nơi chốn thiêng liêng ấy
vô hìnhđối với họ khi họ cứ lộn qua lộn lại như vậy. Họ không trụ lạiở nơi
không có sanh
hữuvà tái sanh. Họ không thích nó, vì vậy họ không ở lại. Hoặc là họđi xuống
khỏi nhàđể bị chó cắn hay bay lên cao để bị kên kên mổđầu. Đó là sinh hữu.
Con
người mù
quáng không thấyđược cái
vượt ra khỏi sự sinh tồn, không còn tái sinh. Tâm con người bị
che mờ, vì
vậy thường xuyên bỏ
qua nó. Con
đường trung đạo mà Đức
Phật đã đi, con đường thực hành pháp chân
chánh, vượt lên trên cả tái sinh và sinh hữu.
Cái tâm đã vượt ra ngoài cả thiện và bất thiện ấy là cái tâm đã giải thoát.
Đó là con
đường của các bậc thánh nhân an tịnh. Nếu không đi con đường đó, chúng ta không bao giờ trở thành những bậc thánh như thế. Sự bình an thanh tịnh đó sẽ chẳng bao giờ có cơ
hội trổ quả. Bởi vì sao? Bởi vì tái sinh và sinh hữu. Bởi vì sinh và tử. Con đường củaĐức Phật không có sinh tử.
Không có thấp và cao. Không có hạnh phúc và đau
khổ. Không có tốt, cũng chẳng có xấu. Đó là con đường trực
tiếp, con
đường thẳng. Con đường bình an và tĩnh lặng. Nó bình an,
không còn đau khổ hay hạnh phúc, buồn đau hay sung sướng.
Đó là cách chúng ta thực hành pháp.
Khi chứng nghiệm điều này, tâm ta sẽ dừng lại. Nó sẽ dừng lại không còn đặt câu
hỏi nữa. Không còn cần tìm kiếm câu trả lời.
Ngay đó rồi! Chính vì vậy Đức Phật nói
rằng Pháp là chỉ những người có trí mới tự mình giác hiểu. Không cần phải hỏi ai hết. Chúng ta tự mình hiểu rõ không chút hồ nghi rằng mọi thứ đều chính xác như Đức Phậtđã nói.
Cống hiến hết mình cho pháp hành

Tôi đã kể cho các bạn
nghe những câu chuyện về
cách tôi đã thực hành pháp như
thế nào. Tôi chẳng có nhiềukiến thức. Tôi không
học nhiều. Cái tôi học thực sự chính là cái tâm này của tôi, và tôi học hỏi một cách tự nhiênthông
qua những kinh nghiệm thực tế, những thử nghiệm và sai lầm.
Khi tôi thích một cái gìđó, tôi liền quán sátxem cái gìđang diễn ra trong tâm mình và nó
dẫn mìnhđi tớiđâu. Điều không thể tránh khỏi là
nó luôn luôn dẫn tôi đi tới một nỗi khổ nàođó trong tương lai. Cách thực hành của tôi là quan sát chính bản thân mình. Khi hiểu biết vàtuệ giác trở nên ngày càng sâu sắc, dần dần tôi hiểuđược chính mình.
Hãy thực hành hết mình, hãy cống hiến hết mình cho pháp hành.
Nếu bạn muốn thực hành Pháp, vậy thì hãy
cố gắngđừng nghĩ quá nhiều. Nếu trong khi hành thiền, bạn phát hiện mìnhđang cố gắng phấnđấuđểđạtđược một kết quả nàođấy,
thì tốt nhất là hãy dừng lại. Khi tâm đã lắng xuống và bình yên trở lại,
bạn hãy suy
xét: “Đó, chính nóđấy! Có phải chính là nó hay không?”, rồi dừng lại.
Dọn hết tất cả mọi kiến thức lý thuyết và
sự phân tích của bạn, gói kín lại và cất kín nó vào trong tủ. Vàđừng lôi nó ra
để mà bàn
luận hay để dạy người. Đó
không phải làloại trí tuệ xuyên thấu vào
bên trong tâm. Nó là loại kiến thức khác
hẳn.
Khi thấy ra sự thật về một cái gìđó, thì nó lại chẳng
giống như nhữngđiềuđược mô tả trong
sách vở. Chẳng hạn,chúng ta viết từ “hưởng thụ dục lạc”. Khi dục lạc thực sự làm chủ tâm chúng ta,
cái từđó chẳng thể nào chuyển tảiđược nguyên ý nghĩa như thực tế.
“Sân” cũng như thế. Chúng ta có
thể viết từấy lên bảng, nhưng khi chúng tathực sự nổi sân thì kinh nghiệmấy lại chẳng
giống thế chút nào. Chúng ta không
thểđọc từấyđủ nhanh, mà tâm thìđã ngậpđầy bởi cơn sân.
Đây làđiểm cực kỳ quan
trọng. Những lời dạy củaĐức Phật về lý thuyết thì hoàn toàn chính xác,
nhưng điều quan trọng là phảiđưa nó vào trong tâm mình. Nó phảiđược thẩm thấu vào bên trong. Nếu Pháp không được mang vào bên trong tâm, bạn sẽ
không thực sự hiểuđược nó. Không thực sự thấy pháp. Tôi cũng như vậy, không
khác. Tôi không học nhiều hiểu rộng, song tôi cũng họcđủđể qua được vài kỳ thi
về giáo
lý. Một ngày nọ, tôi có cơ hộiđược nghe một bài thuyết pháp của một vị thiền sư.
Trong khi đang nghe pháp, bỗng một vài suy nghĩ bất kínhxen
vào. Tôi không biết cách nghe một bài thuyết pháp thực
sự như thế nào. Tôi không thể hiểu nổi vị thiền sư du
tăng nàyđang nói về cái gì. Ngài dạy cứ như thể nó xuất phát từ kinh nghiệm trực
tiếp của chính mình, cứ như là ngàiđang đi cùng chân lý.
Thời
gian trôi
qua,
mãi về sau khi đạtđược những kinh nghiệmđầu tiên trong thiền tập,
tôi đã tự mình thấyđượcsự thật về những gì vị thiền sư năm xưa đã nói. Tôi mới hiểuđược thế
nào là hiểu
biết. Rồi theo sau sự
trỗi dậyđó, những tuệ giácđến dần. Phápđãăn sâu bén rễ trong tâm tôi. Phải mất
một thời
gian rất, rất lâu tôi mớinhận ra được
rằng tất cả mọiđiều mà vị thiền sư du
tăng thuyết hồiđó là từ chính những gì ngàiđã tự mình chứng nghiệm.
Pháp mà ngàiđã giảng dạyđến từ kinh nghiệm thực tế của
chính ngài chứ không phải từ sách vở. Ngài nói theo những hiểu biết và tuệ giác của
ngài. Khi chính mình bướcđi trên con đườngđó, tôi đã gặp qua tất cả mọi chi tiết mà ngàiđã mô tả và phải công nhận rằng ngàiđãđúng. Vì vậy,
tôi tiếp
tục thực hành.
Hãy cố gắng tận dụng tất cả mọi cơ hội bạn có thể
cóđể cố
gắng thực hành Pháp. Dù rằng có bình an hay không, ở thờiđiểm nàyđừng lo lắng vềđiềuđó. Ưu tiên hàng đầu là khởiđộng việc thực hành pháp và tạo nhân duyên cho sự giải thoát trong
tương lai. Nếu bạnđã làm những việc cần phải làm,
thì cần gì phải lo lắngđến kết quả.  Đừng lo rằng mình sẽ không đạt kết
quả. Lo
lắng không phải là bình an. Giả sử nếu bạn không làm những việc cần làmđó,
thì làm sao có thể trông đợi kết
quả sẽđến? Làm sao có thể hy vọng thấyđược
nó? Chỉ những người gia công tìm kiếm thì
mới có thể thấy. Chỉ người nàoăn thì ngườiấy no.  Tất cả mọi thứ xung quanh chúng ta đều lừa dối chúng ta.
Nhận rõđượcđiều này, thậm chí cả chục lầnđi nữa, thì vẫn còn tốt chán. 
Nhưng gã lưu
manh ấy vẫn tiếp tục lừa gạt chúng ta bằng những câu chuyện dối trá xưa cũ. Nếu chúng ta biết hắnđang lừađảo mình, thì sự việc
không đến nỗi tệ lắm, nhưng có thể phải rất rất lâu chúng ta mới nhận ra đượcđiều
đó.  Gã lưu manh nhẵn
mặtđó vẫn cứđến thường xuyên và
lừađảo chúng
ta hết cú nàyđến cú khác.
Thực
hành pháp là giữ giới,
tu tậpđịnh và phát triển tuệ giác trong
tâm mình. Hãy ghi nhớ và suy xétđến ba ngôiTam Bảo:
Phật, Pháp, Tăng. Hãy buông bỏ hết
thảy mọi thứ, không trừ lại gì. Chính những hànhđộng của chúng ta là nhân và duyên sẽ trổ quả ngay trong
kiếp sống này. Vì vậy, hãy cố gắng hết
mình, với tất cả tấm lòng thành.
Ngay cả khi chúng ta phải ngồi trên một chiếc ghế dựađể
hành thiền, chúng ta vẫn có thể
tập trung chúý. Lúcđầuchúng ta không phải chúýđến nhiềuđề mục – chỉ
cần chúý vào hơi thở. Nếu thích chúng ta
có thể niệm thầm “Phật”, “Pháp”, “Tăng” (Budha, Dhamma, Sangha) theo từng hơi thở.
Trong khi tập trung sự chúý, chúng takhông được kiểm soát hơi thở. Nếu hơi thở trở
nên mất tự
nhiên hay khó chịu, điều
này cho thấy bạnđang thực hành sai
cách. Khi còn chưa cảm thấy thoải mái với hơi thở,
thì nó vẫn còn quá nông hay quá sâu, quá vi tếhoặc quá thô tháo. Nhưng khi chúng ta thư giãn với hơi thở,
và thấy nó nhẹ nhàng, thỏa mái là chúng ta biết
cáchthực hành. Nếu không làmđúng, chúng ta sẽ mất hơi thở.
Khi điềuđó xảy ra, thì tốt nhất là dừng lại một chút vàthiết
lập lại chánh niệm.
Nếu trong lúc hành
thiền, chúng
ta thấy những hiện tượng lạ thường, hoặc tâm trở nên sáng chói,
tỏa hào
quanghay nhìn thấy cảnh chư thiên này
nọ v.v… không cần phải sợ.
Chỉđơn giản ghi nhận những
gìđang kinh
nghiệmvà tiếp tục hành
thiền. Đôi khi, sau một lúc hành thiền, hơi thở trở
nên chậm dần và ngừng lại. Cảm giác thở
hình như biến mất và bạn hoảng sợ. Đừng lo, chẳng có gì phải sợ cả. Bạn chỉ
nghĩ là hơi
thở dừng lại thôi. Thực rahơi thở vẫn cònđó, nhưng hoạtđộngở mứcđộ vi tế hơn nhiều lúc bình thường.
Sau một lúc, hơi thở sẽ
tự trở
lạibình thường.
Lúc
đầu,
chỉ cần tập trung vào việc làm cho
tâm tĩnh lặng và bình an. Dù cho đang ngồi trên ghế, lái xe, bơi thuyền
hay ở bất cứ nơi nào bạn đang có mặt, bạn cần phải đủ thành thục trong thiềnđến mức có thể trở lạitrạng
thái tĩnh lặngấy bất cứ
lúc nào mình muốn. Khi bạn lên tàu và ngồi xuống, hãy nhanh chóngđưa tâm mình
vào trạng
thái tĩnh lặng. Ở bất cứ
nơi nào bạn cũng có thể ngồi thiềnđược. Mứcđộ thành thục này
cho thấy bạnđãquen thuộc hơn với con đường thực hành.
Khi đó bạn hãy tập quán sát. Sử dụng sức mạnh của
cái tâm bình an nàyđể quán sát những gì bạnđang cảm nhận. Có lúcđó là
những gì bạnđang thấy, có lúc là cái bạnđang nghe, nếm, ngửi, đụng chạm hay là suy nghĩ và cảm xúc trong
tâm. Bất cứ
sự xúc chạm giác quan nàođang tự thể hiện – dù bạn thích hay không thích nó –
cũngđều phải quán sát.  Chỉđơn giản hay biết những gì bạnđang
cảm nhận. Đừng diễn dịch hay
gán ghépý nghĩa cho nhữngđối tượng mìnhđang hay biết. Nếu nó tốt, chỉ cần biết
nó tốt. Nếu nó xấu, chỉ cần biết là nó xấu. Đó là thực tại quy ước do con người chếđịnh.
Tốt hay xấu, tất cảđều vô thường, khổ và vô ngã. Không thể trông cậy gì
vào chúng cả. Chẳng có cái nàođángđể cho chúng ta bám víu hay
dính mắc. Nếu bạn có thể duy trì thực hành tĩnh
lặng và quán
sát này, trí tuệ sẽ tựđộng sanh khởi.
Khi đó tất cả mọi thứđược bạn cảm nhận và kinh nghiệm rơi
vào ba cái giỏ vô thường, khổ, vô ngã. Đó là thiềnvipassāna. Tâm đãđược tĩnh
lặng, mỗi khi một trạng thái tâm bất thiện nào
nổi lên, hãy ném chúng vào một trong ba cái giỏấy. Đây chính là tinh yếu của
thiềnvipassāna: ném tất cả mọi thứ xuống vô thường,
khổ, vô
ngã. Tốt, xấu, kinh khủng hay
bất cứ cái gì, vứt nó xuống. Chẳng bao lâu, hiểu biết và tuệ giác sẽ bừng nở giữa ba đặc tướng phổ
quátấy – mới là loại tuệ giác yếu
và mờ nhạt. Trong giai đoạnđầu, tuệ giác còn
yếuớt và mờ nhạt, nhưng hãy cố gắng duy trì sự thực hành một cách liên tục.
Rất khóđể diễn tả thành lời nói,
nhưng nó giống như một người nàođó muốn hiểuđược tôi, họ phảiđến vàởđây với
tôi. Nhờ sự tiếp xúc hàng
ngày, chúng
ta mới hiểuđược nhau.

Hãy tôn trọng truyền thống
Bây giờ chính là lúc chúng ta phải bắtđầu thực hành thiền. Hành thiềnđể hiểu biết,
để buông
bỏ vàđể bình an.
Trước kia tôi là một nhà sư lang thang nay đây mai đó – một du
tăng. Tôi đi bộ khắp nơi để tìm thầy và tìm nơiđộc cư hành thiền. Tôi không đi đây đóđể thuyết pháp.
Tôi đi nghe những bài pháp của các vị thiền sư vĩđại
thờiđó. Tôi không đi để dạy họ. Tôi lắng nghe bất cứ lời khuyên nào của họ. Ngay cả khi những vị sư
trẻ tuổi hay mới tu cố giảng pháp cho
tôi, tôi cũng kiên nhẫn lắng
nghe. Tuy
nhiên, tôi ít khi bàn luận về
Pháp. Tôi chẳng thấy cóý nghĩa gì khi tham gia vào
những buổi thảo luận dài lê thê.
Bất cứ lời dạy nào tôi đã chấp nhận, tôi thực hànhtheo ngay lập tức, trực tiếp ngay nơi chúng dạy ta xả ly và buông bỏ.
Cái gì tôi làm, là tôi làmđể xả ly và buông bỏ. Chúng ta không nhất thiết phải trở thành các học giả và chuyên gia về kinh điển. Chúng ta đang giàđi dần theo năm tháng, và mỗi
ngày trôi
qua chúng ta chỉ
chộp lấy nhữngảoảnh vàđể tuột mất thực tế. Thực hành pháplà một việc hoàn toàn khác với việc nghiên cứu về nó.
Tôi không chỉ trích bất cứ phương pháp thiền nào. Khi chúng ta đã hiểu mụcđích vàý nghĩa thật sự của phương pháp,
chúng không hề sai. Tuy nhiên, tự coi mình là một thiền sinh Phật giáo mà không giữ gìn giới luật nghiêm chỉnh,
thì theo tôi, sẽ không bao giờđạtđược thành công. Tại sao? Bởi vì chúng ta đã bỏ qua một phần cốt yếu của con đường.
Bỏ qua giới, thìđịnh và tuệ sẽ không thể hoạtđộngđược. Có thể một số người sẽ
nói với bạn rằng không nên dính mắc vào sự an lạc của thiền chỉ:
“Đừng mất
công thực hành thiền chỉ; hãy tiến thẳng vào tuệ và thiềnvipassāna”.
Như tôi thấy, nếu chúng ta cố
tránhđể tiến thẳng vào thiềnvipassāna, chúng ta sẽ
không thể hoàn thành cuộc hành trình một cách tốtđẹp.
Đừng từ bỏ cách thực hành và phương pháp của các vị thầy danh tiếng trong truyền thống thiền rừng, như thiền sưAjhan Sao,
Ajhan Mun, Ajhan Taungrut, Ajhan Upali. Con đường các
vịấy dạy thực sựđáng tin cậy và thực tế – nếu chúng ta làmđúng phương pháp của
các vị. Nếu chúng ta đi theo bước
chân của các vị thầy, chúng ta cũng
sẽ có được hiểu biết thực
sự về chính bản thân mình. Thiền sư Ajhan Sao gìn giữ giới hạnh của mình một cáchhoàn hảo. Ngài không nói chúng ta nên bỏ qua nó.  Các vị thầy lỗi lạc của dòng tu thiền rừng gợi ý cần phải thực hành thiền và giới luật theo một cách nhất định,
thì vì lòng kính trọng với
các ngài, chúng ta nên thực hiện theo những gì các ngài đã dạy. Nếu các
ngài dạy phải làm như thế, thì chúng ta hãy
làm như thế.  Nếu các ngài nói không làm nữa vì như vậy là sai, thì chúng ta không làm nữa. Chúng ta làm điều đó vì đức tin.  Chúng ta làm điều đó với lòng chân thành và quyết tâm không
lay chuyển. Chúng ta thực hành cho đến khi 
thấy Pháp ở chính trong tâm mình, cho đến khi
mình chính là Pháp. Đó chính là những gì các vị thầy trong rừng đã dạy. Đệ tử của các ngài ngày càng tăng trưởng niềm kính trọng, ngưỡng mộ và tình cảm sâu sắc với các
ngài, vì đi
theo con đườngcủa các ngài, họ đã thấy được những gì mà
thầy mình đã thấy.
Hãy thử thực hành.
Hãy làm đúng những gì tôi nói. Nếu bạn thực sự thực hành,
bạn sẽ thấy Pháp, bạn sẽ là Pháp. Nếu bạn thực sự tìm kiếm,
thì cái gì có thể ngăn bạn được? Các phiền não trong
tâm sẽ biến mất khi bạn tiếp cận chúng với một chiến lược đúng đắn:
hãy là một người xuất ly, từ bỏ, người nhàm chán với thế gian,
biết đủ với những thứ ít ỏi, từ bỏ tất
cả mọi quan kiến bắt nguồn từ bản ngã và ảo tưởng tự cho mình là quan trọng. Khi đó bạn
sẽ có thể đủ kiên nhẫn để
lắng nghe mọi người, ngay cả khi họ nói ra toàn những điều sai trái.
Bạn cũng có thể kiên nhẫn lắng
nghe cả khi họ nói đúng. Hãy tự kiểm tra mình
theo cách này mà xem. Tôi đảm bảovới các bạn, hoàn toàn có
thể làm được, nếu bạn thử. Tuy nhiên các
nhà học
giả lại hầu như chẳng có
ai đến vàthực hành pháp cả. Cũng có một vài người, nhưng rất
ít. Thật là xấu hổ. Việc bạn đi cả một quãng đường dài đến đây
thăm tôi cũng là việc đáng hoan hỷ rồi.
Nó cho thấy sức mạnh ở
bên trong tâm của bạn. Một số chùa chỉ khuyến khích các sư học kinh điển.
Họ học và học, cứ học mãi như vậy chẳng biết lúc nào dừng, và chẳng cắt bỏ
những gì cần cắt bỏ. Họ chỉ học mỗi từ “bình an”. Nhưng khi bạn dừng lại, tĩnh
lặng, bạn sẽ phát hiện ranhững thứ có giá trị thực
sự.  Đó là cách bạn tìm hiểu vấn đề. Sự tìm hiểu này
thực sự giá
trị và hoàn toàn cố định. Nó đi thẳng vào những gì bạn học trong sách vở.
Nếu các nhà học giả Phật học mà
không thực
hành thiền, thì họ chỉ có kiến thức mà không có hiểu biết.
Chỉ khi họ thực hành những
gì Đức
Phật dạy, thì những điều
họ đã học mới trở nên sống động và rõ ràng.

vậy,
hãy bắt đầu thực hành đi
thôi. Hãy phát triển loại hiểu biết đó.
Hãy thử sống ở rừng và đến đây, sống ở một trong những cái cốc nhỏ này. Tu tập thử theo cách này một thời gian và tự mình thể nghiệm, nó còn có giá trị hơn việc đọc sách nhiều. Khi đó bạn có
thể tự đàm
luận pháp với chính mình.
Trong khi quan sát tâm,
hãy làm như thể đã buông bỏ và
yên nghỉ trong trạng thái tự nhiên của
nó. Từ trạng
thái tĩnh lặng tự nhiên này, khi đó nó lăn tăn, xao động dưới dạng các suy nghĩ và khái niệm, đó là lúc tiến trình điều kiện hoá của các hành (sankhara)
đang bắt đầu vận hành. Hãy cẩn thận và quan sát kỹ tiến trình điều kiện hoá ấy. Một khi nó xao động,
dịch chuyển và rời khỏi trạng thái tự nhiên này,
sự thực
hành Pháp sẽ không còn đi
đúng hướng nữa. Nó sẽ sa vào một trong hai cực đoan là
hưởng thụ (lợi dưỡng) hoặc tự hành hạ mình (khổ hạnh).
Chính tại chỗ đó. Đó chính là cái làm cho mạng lưới điều kiện hoá (các hành) của tâm nảy nở. 
Nếu trạng
thái tâm tốt, nó sẽ tạo ra
các hành tích
cực. Nếu trạng thái tâm
xấu, các hành ấy là tiêu cực. Những thứ ấy bắt nguồn từ chính trong tâm
bạn.
Tôi nói cho các bạn biết điều này, quan sát cách thức tâm mình vận hành ra
sao là một việc vô cùng thú vị. Tôi có thể nói về chỉ một đề tài này suốt cả
ngày không chán. Khi bạn hiểu được cách thức hoạt động của
tâm mình, bạn sẽ thấy rõ tiến trình này vận hành ra
sao, cách tâm bị phiền não và ô nhiễm tẩy não như thế nào. Tôi nhìn tâm mình
chỉ đơn
thuần là một điểm duy nhất.
Các trạng
thái tâm chỉ là những vị
khách ghé thăm điểm đó. Lúc thì người này đến gọi một tiếng, lúc thì kẻ khác
đến chơi một tẹo. Họ đến trung tâm tiếp đón khách.
Hãy rèn
luyệncái tâm mình luôn quan sát và
biết tất cả các vị khách ấy bằng một con mắt tỉnh giác. Đó là cách bạn quan tâmchăm
sóc cho tâm mình. Mỗi khi có khách tới thăm, bạn chỉ cần xua họ sang một bên.
Nếu bạn không cho họ vào, thì họ ngồi ở đâu được? Chỉ có mỗi một cái ghế và bạn
đang ngồi trên đó.  Hãy giữ vững cứ điểm đó
suốt ngày.
Đó chính là chánh niệm vững chắc không hề lay chuyển của Đức Phật;
nó canh gác và bảo vệ tâm.
Bạn đang ngồi đúng nơi đây. Từ lúc bạn chào đời, tất cả mọi khách khứa đến thăm đều đến đúng
chỗ này. Cho dù họ đếnliên tục đến đâu chăng nữa, thì cũng chỉ đến
đúng mỗi điểm này mà thôi. Hãy biết tất cả bọn họ, chánh niệm củaĐức Phật một mình ngồi vững nơi đó, không thể lay
chuyển. Những người khách đó đi đến đây để tìm cách tác động, gây ảnh hưởng và
lôi kéo tâm bạn bằng nhiều cách khác nhau.  Khi chúng xâm nhập thành công và lôi kéo tâm mắc mớ trong các vấn đề của chúng, các trạng thái tâm sẽ sanh khởi.
Bất kể đó là vấn đề gì, câu chuyện gì, mỗi khi nó dẫn dắt mình đi, hãy bỏ
qua nó ngay – nó không quan trọng. Chỉ đơn giản biết
vị khách đó là ai khi họ đến cửa. Khi họ ghé vào, họ thấy có mỗi một cái ghế,
khi nào bạn còn ngồi trên cái ghế đó, họ sẽ không có chỗ để ngồi. Họ đến nghĩ
là sẽ rót vào tai bạn những câu chuyện vô bổ, nhưng lần này thì chẳng có chỗ mà ngồi. Lần sau
họ đến, cũng chẳng có ghế. Dù những kẻ thích tán gẫu ấy đến bao nhiêu lần cũng
thấy vẫn cái gã ấy ngồi nguyên xi trên ghế. Bạn vẫn không nhúc nhích. Bạn nghĩ
là chúng sẽ chịu được tình trạng này
bao lâu? Chỉ cần nói chuyện qua với chúng là bạn đã biết rõ chúng rồi. Tất cả mọi người và tất cả mọi thứ mà bạn từng biết kể
từ khi va
chạm với cuộc đời sẽ đến thăm bạn. Chỉ đơn giản quan sát và biết mình chính
tại nơi này là đủ để thấy pháp một cách hoàn toàn. Bạn tự mình thảo luận, quan sát và quán chiếu.
Đó là cách bạn đàm luận Pháp. Tôi chẳng biết nói về chuyện gì
sất cả. Tôi có thể tiếp tục nói
nữa theo cách này, nhưng cuối cùng thì
cũng chẳng có gì ngoài nói và nghe. Tôi khuyên bạn hãy thực sự bắt tay vào thực hành.

Thuần thục trong thiền tập

Nếu tự nhìn lại chính
mình, bạn sẽ phải đối mặt với những vấn đề nhất định. Có con đường để
định hướng bạn đi theo. Khi bạn tiếp tục tiến
bước, tình
trạng đó sẽ thay đổi và
bạn sẽ phải tự điều chỉnh để vượt qua những vấn đềmới
nảy sinh. Cần cả một thời gian tu tập rất
dài bạn mới có thể thấy được những dấu mốc tiến bộ rõ ràng. Nếu bạn đi đúng theo cùng một con đường tôi đã đi qua, nhất định hành trình đó sẽ phải diễn ra ở chính trong tâm
bạn. Nếu
không phải vậy, bạn sẽ gặp
phải vô
số chướng ngại.
Cũng y như việc bạn nghe một tiếng động.
Nghe là một thứ, tiếng động là
một thứ khác, chúng ta có
thể ý
thứcđược cả hai thứ đó mà không phải ghép sự kiện đó lại.  Chúng ta lấy từ tự nhiên 
những nguyên liệu thô để quán chiếu tìm hiểu chân lý. Cuối cùng tâm
sẽ tự phân
chia, mổ xẻ các hiện tượng tự nhiên đó.
Chỉ đơn
giản cung cấp nguyên
liệu đầu vào, tâm chẳng dính líu đến
quá trình ấy. Khi tai thu nhận tiếng động, hãy quan sát cái
gì đang diễn ra trong tâm mình. Tâm có dính vào, rối tung lên và bị tiếng động ấy cuốn đi hay không? Tâm có bị khó
chịu hay không? Ít nhất cũng
phải hay biết được những điều đó. Khi một tiếng động được chánh niệm ghi nhận,
nó sẽ không quấy rối tâm.
Ở ngay tại đây, chúng ta ghi nhận những
thứ thực
tế đang có sẵn trong tay
chứ không phải chạy đi đâu xa cả. Ngay cả khi chúng ta muốn chạy trốn khỏi tiếng động, cũng chẳng có chỗ mà chạy. Lối thoát duy nhất là rèn luyện tâm
mình để trở nên không lay động trước tiếng động. Buông bỏ tiếng động xuống.Tiếng động mà chúng ta buông bỏ đó, chúng ta vẫn nghe được. Chúng ta nghe, nhưng cho nó đi qua, bởi vìchúng ta đã buông bỏ nó xuống. Không phải cố ý tách biệt tiếng động và cái nghe, chúng tự động tách rời
nhau bởi vì sự buông bỏ. Ngay cả khi chúng ta muốn bám víu tiếng động, tâm cũng sẽ không dính vào. Bởi một khi đã
hiểu được bản chất thật
sự của hình
ảnh, âm thanh, mùi, vị và mọi thứ còn lại, tâm sẽ nhìn với tuệ giác rõ ràng,
tất cả mọi thứ được cảm nhận, không trừ ngoại lệ nào, sẽ rơi vào một trong ba
đặc tướng phổ quát là vô thường, khổ, vô ngã.
Mỗi khi nghe tiếng động,
nó sẽ hiểu theo những đặc tướng ấy. Bất cứ khi nào có sự xúc chạm của tiếng động với tai, chúng ta nghe thấy, nhưng dường như không nghe. Không phải là tâm không hoạt động: chánh niệm và tâm đan xen và hợp làm một để giám
sát lẫn nhau liên tục. Khi tâm đã được rèn luyện đến mức này, dù chọn đi đường nào
chăng nữa, chúng ta cũng
vẫn đang tìm
hiểu chân lý.  Chúng ta sẽ
phân tích các hiện tượng (trạch pháp), một trong các giác chi cốt yếu, và chính sự phân tích này sẽ
tự động tiến
triển bằng quán tính của
nó.
Hãy tự đàm luận Pháp với chính bản thân mình. Tháo gỡ và giải phóng các cảm xúc,
ký ức, suy
nghĩ, tưởng tượng, các ý định và tâm thức.
Không có cái gì có thể động chạm đến chúng khi chúng tự thể hiện các chức năng của
mình. Đối với những người đã làm chủ thành thục tâm
mình, tiến trình suy xét và quán chiếu này sẽ tự động trôi chảy.
Không còn phải cố ý định
hướng cho nó nữa. Bất cứ chỗ nào tâm hướng đến, sự quán chiếu tự khắc có mặt.
Khi thực hành Pháp đến trình độ này,
sẽ có một lợi ích phụ
rất thú
vị nữa. Trong khi ngủ, các hiện tượng ngáy, nghiến răng, vật vã qua lại, tất cả các thói xấu ấy không còn nữa. Ngay cả sau một giấc
ngủ rất say, khi thức dậychúng ta không
bị lờ đờ, hôn trầm nữa. Chúng ta sẽ cảm thấy đầy
sức sống, luôn tỉnh táo như
thể chưa
bao giờngủ cả. Trước kia tôi thường ngáy, nhưng khi tâm trở nên tỉnh thức trong mọi lúc như thế, tự nhiên không còn ngáy nữa. Làm sao mà ngáy
được khi bạn tỉnh? Chỉ là cái thân này dừng lại, ngủ nghỉ thôi. Tâm luôn luôn tỉnh thức suốt ngày đêm. Đó chính là chánh niệm thuần khiết ở mức độ cao của Đức Phật:
Người luôn hay biết, người tỉnh thức, người luôn tràn đầy hỷ lạc,
người chiếu sáng rực rỡ. Sự tỉnh giác rõ ràng này
không bao giờ ngủ. Năng lượng của
nó luôn tự bảo tồn, không bao giờ lơ mơ,
hay gật
gù buồn ngủ. Ở giai đoạn này, chúng tacó thể không cần ngủ suốt hai, ba ngày mà không sao
cả. Khi thân có dấu hiệu mệt mỏi, chúng ta ngồi
xuống hành thiền và ngay lập tức nhập
sâu vào định trong khoảng 5-10
phút. Khi ra khỏi định, chúng ta cảm thấy hoàn toàn tươi
mới và đầy sức sống cứ như vừa dậy sau một đêm ngon giấc. Khi không còn phải
bận tâm cho cái thân này nữa, thì ngủ hay không không còn
quan trọng. Chúng ta thực hiện những biện pháp cần thiết để chăm sóc cho cái thân này mạnh
khoẻ, nhưng không còn lo lắng cho
nó nữa. Để cho nó đi theo quy luật tự nhiên.Chúng ta không phải bắt thân mình phải tuân theo ý mình. Nó sẽ tự biết phải như thế
nào. Như thể có ai đó luôn ở đó thúc ép chúng ta phải cố gắng tiến lên. Khi chúng ta lười, liền có giọng nói bên trong hò
hét bắt ta phải chăm chỉ lên. Ở thời điểm này, không thể có bế tắc nữa, bởi vì
sự nỗ lực và tiến bộ đã
có một quán tính không gì
có thể ngăn chặn được. Bạn hãy tự mình thể nghiệm chính
điều này. Bạn đã học pháp học cả một thời gian quá
dài rồi. Bây giờ là lúc phải học hỏi và tìm hiểu về chính bản thân mình.
Trong giai đoạn đầu thực hành pháp,
thân ẩn
cư (sống một mình)
là điều tối quan trọng. Khi sống một mình, bạn sẽ nhớ lại lời dạy của Ngài Sariputta (Xá Lợi Phất): “Thân ẩn cư là
nhân, duyên để khởi lên tâm ẩn cư, nhữngtrạng thái định thâm sâu thoát ly khỏi trần cảnh.
Tâm ẩn cư này lại là nhân duyên của tỵ phiền não ẩn cư (xa rờiphiền
não), chứng đạo”. Ấy thế mà nhiều người dám nói rằng sống ẩn cư không quan trọng, “nếu tâm bạn bình an thì ở đâu chẳng quan trọng”. Đúng thế,
nhưng ở giai đoạn đầu chúng ta cần
nhớ rằng sống một mình ở
một nơi thích
hợp là điều đầu tiên cần phải có. Ngay ngày hôm nay, hoặc một lúc
nào đó sớm sớm, hãy tìm một nơihoả táng xác người xa vắng nào đó ở trong rừng,
xa con
người. Hãy thử nghiệm sống hoàn toàn một mình như
thế xem. Hay đi tìm một ngọn núi hoang vắng rùng rợn nào
đó. Hãy đi và sống một mình nơi
đó, được không? Bạn sẽ có khối niềm vui trong suốt đêm
dài. Chỉ khi đó bạn mới tự mình hiểu được. Ngay cả bản thân tôi ngày xưa cũng
có lúc nghĩ rằng độc cư không
phải là điều quan trọng lắm. Lúc đó tôi nghĩ thế, nhưng một lần tôi đã thực sự đi và thử sống một mình như vậy, tôi suy nghĩ về những gì Đức Phật đã dạy. Đức Thế Tôn khuyến khích các đệ tử tìm những nơi hoang vắng xa con người để thực hành pháp. Lúc đầu,
thân ẩn
cư xây nên nền tảngvững chắc cho
tâm ẩn cư,
và chính điều này sẽ hỗ trợ để đạt được trạng thái xa
lánh mọi phiền
não trong tâm (tỵphiền não ẩn cư).
Chẳng hạn, nếu bạn là
một người cư sỹ sống trong gia đình. Bạn có được loại ẩn cư nào? Khi bạn quay về nhà, ngay khi mới bước chân vào cửa
bạn đã bị tấn công bởi đủ thứ vấn đề phức tạp và hỗn loạn.
Chẳng thể có được thân ẩn cư. Vì vậy bạn
tìm đến một nơi xa vắng, nơi có bầu không khí hoàn toàn khác
ở nhà để hành thiền. Điều quan trọng là phải hiểu rõ được
tầm quan trọng của việc sống một mình, tách biệt với mọi người trong giai đoạn đầu thực hành pháp.
Rồi sau đó bạn tìm một vị thầy để xin học thiền. Vị thầy sẽ hướng dẫn, khuyên
bảo và chỉ ra những chỗ bạn còn hiểu sai, bởi vì chỗ sai thường chính là
những chỗ bạn vẫn nghĩ là đúng
. Chính chỗ bạn sai là những chỗ bạn cho
là mình hiểu đúng. Khi thầy giảng giải, bạn sẽ hiểu được đâu là cái sai, và nhất định chỗ sai đó chính xác là chỗ bạn vẫn cho là mình đúng.
Theo tôi được biết,
nhiều nhà
sư chuyên nghiên cứu pháp học chỉ tìm kiếm chân lý trong sách vở. Chẳng có lý do gì mà lại không thể nghiệm trong thực tế.
Lúc mở sách ra và học, chúng ta học
theo cách đó. Nhưng khi đã cầm vũ khí lên để chiến đấu, chúng ta phải chiến đấu theo những cách 
chưa chắc đã có trong sách vở. Nếu một chiến sỹ vào trận mà chỉ chiến đấu theo
sách thì sẽ không thể địch lại được đối thủ. Nếu người chiến sỹ đó thực sự chân thành và thực sự chiến đấu, anh ta phải
chiến đấu một cách vượt ra ngoài lý thuyết sách
vở. Đó là cách phải làm để chiến thắng. Những lời dạy của Đức Phật trong kinh điển chỉ là những hướng dẫn và ví dụ để đi theo,
và đôi khi chính việc nghiên cứu kinh điển lại
khiến bạn cẩu thả, vội vàng trong
cách hiểu.

Thử thách đến tận cùng

Con
đường của các vị thầy theo truyền thống tu trong rừng là con đường từ bỏ.
Trên con
đường này chỉ cóbuông bỏ. Chúng ta nhổ
bật gốc rễ của những lối suy nghĩ tự
cho mình là quan trọng. Nhổ bật gốc rễ của cái tôi, cái ngã. Tôi đảm bảo với bạn, cách thực hành này sẽ thử thách bạn đến tận phần cốt lõi sâu kín nhất, nhưng dù nó khó khăn đến
đâu cũng đừng bao giờ bỏ thầy và những lời dạy của các ngài. Không có sự hướng
dẫn đúng
đắn thì tâm và định rất dễ
lừa dối chúng
ta. Những điều tưởng chừng không thể có sẽ bắt đầu xuất hiện.
Tôi luôn luôn nhìn những hiện tượng ấy
một cách cảnh
giác và chú ý. Khi còn
trẻ, trong những năm đầu tiên mới học thiền, tôi thậm chí còn không dám tin vào
tâm mình nữa. Tuy nhiên, khi đã đạt được những kinh nghiệm tương đối và có thể tin tưởng hoàn toàn vào sự vận hành của tâm mình, thì không gì có thể tạo
ra vấn đề nữa. Ngay cả khi những hiện tượng khác thường xảy đến, tôi cứ để kệ nó
như thế. Nếu chúng ta lần
ra được cách thức chúngvận hành ra sao, thì chúng sẽ tự biến mất. Nó
chỉ là nhiên liệu cho trí tuệ. Thời gian trôi
đi, chúng
ta sẽ thấy mìnhhoàn toàn thoải mái với
chúng.
 Trong thiền,
những thứ thường không sai lại có thể sai.
 Chẳng hạn, chúng ta ngồi bắt chéo chân đầy quyết tâm và thề: “Được rồi, lần này quyết không suy nghĩ lung tung nữa. Tôi sẽ tập trung tâm.
Hãy nhìn mà xem”. Cách này chẳng bao giờ thành công cả.
Mỗi lần tôi thề như thế, thiền chẳng tiến lên được tý nào hết. Nhưngchúng ta thường
thích hô khẩu hiệu. Từ những gì tôi đã trải qua, tôi thấy rằng thiền tự động tiến triển theo
nhịp độ của chính nó.  Rất nhiều đêm tôi ngồi thiền và
tự nói với mình: “Được rồi, đêm nay tôi sẽ không đứng dậy khỏi chỗ ngồi này trước 1g sáng”. Thậm
chí chỉ với suy nghĩ này
thôi mà tôi đã tạo nghiệp xấu rồi, bởi vì không lâu sau cái đau trong thân tấn
công tôi từ mọi phía, nó áp đảo tôi
đến nỗi tôi cảm tưởng mình
sắp chết đến nơi. Nhưng những lúc tôi hành thiền tốt lại là những lúc tôi chẳng
tự đặt trước thời gian ngồi
là bao lâu. Tôi chẳng đặt trước là 7g, 8g, hay 9g sẽ đứng dậy,
mà chỉ đơn
giản ngồi, duy trì liên tục như vậy, buông xả mọi thứ.Đừng bao giờ cưỡng ép
hành thiền. Đừng cố gắng suy diễn những
gì đang diễn ra.
Đừng thúc ép tâm mình bằng những tham vọng thiếu thực tế như phải nhập vào định chẳng hạn – nếu không bạn sẽ thấy tâm mình náo loạn và ương
bướng hơn thường lệ. Chỉ cần để tâm mình
thư giãn, buông lỏng, thoả mái và yên lành.
Để hơi thở trôi chảy tự nhiên,
không bắt nó phải ngắn hay dài. Đừng biến nó thành một cái gì đặc biệt.
Để thân mình thả lỏng, thoải mái và
thư giãn. Rồi cứ tiếp tục như
thế. Tâm sẽ hỏi bạn: “Tối nay chúng ta sẽ
hành thiền đến lúc nào nhỉ? Mấy giờ thì xả thiền?”. Nó không ngừng mè nheo, nên
bạn phải quát cho nó một trận: “Nghe này ông tướng, để tao yên”. Kẻ lắm chuyện
đó cần
phải thường xuyên bị đàn áp,
bởi vì nó chẳng là gì khác ngoàiphiền não đang quấy rầy bạn.
Đừng để ý đến nó. Bạn phải cứng rắn với nó. “Dù
tao có xả thiền sớm hay muộn cũng không phải là việc của mày. Nếu tao muốn ngồi thiền cả đêm thì cũng chẳng liên quan gì đến ai cả, tại sao mày cứ chõ mũi
vào việc của tao hả?” Bạn phải cắt phéng cái gã hay chõ mũi vào việc người khác
đó như thế. Rồi bạn có thể hành thiền đến lúc nào tuỳ thích, đến khi nào thấy
đủ thì thôi.
Khi bạn để tâm thư giãn và thoải mái,
nó sẽ trở nên bình yên. Trải nghiệm điều đó, bạn sẽ nhận ra và đánh giáđược sức mạnh của
sự dính mắc. Bạn tiếp tục ngồi
như thế, thật lâu, quá nửa đêm, rất thoả mái và thư giãn, khi đó bạn mới hiểu
được thiền
chỉ đơn giản là
như vậy. Bạn sẽ hiểu được rằng dính mắc và chấp thủ thực
sự làmô nhiễm tâm
mình ra sao.
Một số người khi ngồi thiền,
họ thắp một nén hương (nhang) trước mặt và
thề: “Tôi sẽ không đứng dậy trước
khi nén hương này cháy hết”. Rồi họ ngồi. Sau khi ngồi và cảm thấy hình như một tiếng đã trôi qua,
họ mở mắt ra và thấy mới được có 5 phút. Họ trợn mắt nhìn cây hương, thất vọng khi thấy sao mà cây hương này dài quá
vậy! Họ nhắm mắt lại và tiếp tục thiền.
Không lâu sau lại mở mắt kiểm tra cây
hương lần nữa. Những người này sẽ chẳng hành thiền đến đâu được hết. Đừng làm
như thế. Chỉ ngồi đó mà mơ đến cây hương, “Không biết nó đã cháy hết chưa
nhỉ?!”, thiền chẳng đi đến đâu cả. Đừng coi những việc ấy là quan trọng. Tâm không cần
phải
làm điều gì đặc biệt hết.
Nếu bạn thực hiện nhiệm vụ phát triển tâm linh,
chớ để phiền
não và tâm tham biết mục đích và các nguyên tắc của bạn. “Đại Đức sẽ
hanh thiền như thế nào ạ?”, nó sẽ dò hỏi, “Ngài sẽ thực hành nhiều
đến đâu? Ngài địnhngồi thiền muộn đến mấy giờ?”. Tâm tham sẽ không
ngừng làm phiền cho đến khi chúng ta phải đi đến thoả thuận. Một khi chúng ta tuyên bố là sẽ ngồi thiền đến nửa đêm, ngay lập tức nó bắt đầu quấy phá. Chưa được một giờ
là chúng
ta đã cảm thấy mất kiên nhẫn và bứt rứt đến mức không thể tiếp tục được nữa. Thế rồi lại thêm nhiều chướng ngại tấn công khi chúng ta tự mắng mỏ mình: “Thật là hết hy vọng!
Cái gì? Ngồi
thiền có thể giết được
mình hay sao? Mình nói sẽ làm cho tâm mình an trú vững chắc trong
định, thế mà nó vẫn bất an và
chạy lung
tung thế này. Mình đã thề thốt mà chẳng giữ lời”. Những suy nghĩ tự phản đối và
chán nản ấy tấn công bạn, và bạn chìm nghỉm trong sự oán ghét bản thân mình. Chẳng có ai khác để đổ lỗi và tức giận cả, và chính điều đó làm
cho mọi thứ tệ hơn. Một khi đã buông lời thề, chúng ta phải giữ. Hoặc là phải thực hiện lời thề hoặc là chết trong khi thực hiện.
Nếu đã thề ngồi thiền trong suốt một
khoảng thời
gian nào đó, chúng ta không nên phá vỡ lời thề và bỏ dở. Nhưng cùng lúc đó, hãy thực hành và phát triển một cách dần dần.
Không cần
phải có những lời thề ghê gớm. Cố gắng rèn luyện tâm mình một cách kiên trì và đều đặn. Thi thoảng, thiền đem lại sựbình an, mọi đau đớn và
khó chịu biến mất. Cái đau ở đầu gối và mắt cả chân cũng tự hết.
  Khi bắt tay vào thực hành thiền, nếu những hình ảnh lạ lùng, những ảo ảnh hay các loại tưởng
sinh lên, việc đầu tiên là hãy kiểm tra lại trạng thái tâm của mình. Đừng bao giờ quên nguyên
tắc cơ bản này. Để những hình ảnhđó sinh lên như vậy, là tâm đã tương đối bình an.
Đừng tham
muốn nó xuất hiện,
cũng không mong nó đừng có đến. Nếu nó sinh khởi, hãy xem xét nó
kỹ, nhưng đừng để nó lừa mình. Chỉ cần nhớ rằng nó không phải là của mình.
Chúng cũng vô thường, khổ và vô ngã như
mọi thứ khác. Ngay cả khi chúng là thật thì cũng đừng nghiền ngẫm hay chú ý quá mức đến chúng. Nếu chúng cứng đầu không chịu đi, thì hãy tập trung sự
chú ý lại vào hơi thở với
sự tinh
tấn mạnh mẽ hơn. Hãy hít
sâu vào ít
nhất là ba hơi thở thật dài, mỗi hơi lại thở ra chầm chậm cho đến hết. Cái mẹo này có thể thành công. Tiếp tục thiết lập lại sự chú ý.
Đừng tìm cách sở hữu những hiện tượng đó. Chúng chẳng là gì khác ngoài cái bản thân chúng đang là, và chúng cũng rất hay
lừa dối.  Hoặc là chúng ta thích thú và
say mê chúng, hoặc là bị chúng làm cho sợ đến phát khiếp. Chúng không đáng tin cậy: có thể không đúng hoặc có vẻ đúng. Nếu bạn thấy
chúng xuất
hiện, đừng cố gắng diễn dịch ý nghĩa của
chúng hay gán cho chúng
một ý
nghĩa nào đó. Nên nhớ rằng
chúng không phải củachúng ta, vì vậy đừng chạy theo những hình ảnh hay cảm giác ấy.
Thay vào đó, ngay lập tức hãy
quay lại kiểm
tra trạng thái tâm hiện tại của mình. Đó là nguyên tắc bất di bất
dịch. Nếu chúng ta từ bỏ nguyên
tắc cơ bản này và bị cuốn theo những gì chúng ta tin
là mình đã thấy, chúng ta sẽ
quên mất bản
thân mình và bắt đầu nói nhảmhoặc
thậm chí điên
khùng. Chúng ta có
thể mất lý
trí đến mức thậm chí không
thể giao tiếp được với người khác một cách bình thường. Hãy đạt lòng tin của
bạn vào chính
tâm mình. Bất cứ điều gì
diễn ra, chỉ đơn giản tiếp tụcquan sát tâm.
Những kinh
nghiệm thiền khác lạ có
thể có lợi cho người trí tuệ, nhưng sẽ nguy hiểm cho những người thiếu trí.
Bất cứ cái gì xảy ra, đừng phấn khích hay vui mừng. Nếu kinh nghiệm diễn
ra, hãy để nó diễn ra.

Đừng bao giờ từ bỏ thiền

Một phương pháp khác để tiếp cận Pháp hành là quán chiếu và xem xét tất cả mọi thứ chúng ta thấy, chúng talàm
hoặc trải nghiệm (cảm nhận được, ý thức được
..). Đừng bao giờ bỏ thiền. Một số người sau khi kết thúcngồi
thiền hoặc đi kinh hành,
họ nghĩ rằng đó là lúc ngừng lại và nghỉ ngơi. Họ không chú tâm đến đề mục thiền
hoặc lĩnh vực đang quán chiếu nữa.
Họ hoàn
toàn bỏ lửng. Đừng thực hành như thế! Bất cứ cái gì bạn thấy, hãytìm hiểu xem
thực sự bản
chất nó là gì. Xem xét 
những người tốt trên thế gian. Xem xét cả
những người xấu nữa. Hãy nhìn sâu sắc vào những người giầu có và quyền lực;
và cả những kẻ bần cùng, khốn khổ. Khi bạn nhìn thấy một đứa trẻ, một người
già, một người con trai, con gái trẻ tuổi, hãy tìm hiểu ý nghĩa của già. Tất cả đều là nhiên liệu cho
quá trình quán chiếu. Đó là cách bạn tu tập tâm của mình.
Sự
quán chiếu dẫn đến chứng ngộ Pháp là quán chiếu về nhân duyên, tiến trình nguyên nhân-kết quả, và mọihình thức thể hiện của
nó: cả lớn lẫn nhỏ, đen và trắng, tốt và xấu. Tóm lại, tất cả mọi thứ. Khi bạn suy nghĩ,
hãynhận ra rằng
đó chỉ là một suy nghĩ và quán chiếu rằng nó chỉ là như thế, chẳng gì khác.
Tất cả những thứ đó đều cuốn vào nghĩa địa của vô thường,
khổ, vô
ngã, vì vậy đừng
có dính mắc, bám víu vào
bất cứ thứ gì. Đây là nghĩa địa của tất cả mọi hiện tượng.
Thiêu và chôn chúng đi để chứng ngộ sự thật.
Có được tuệ giác về vô thường nghĩa
là không để cho bản thân mình
phải chịu đau khổ. Nó là việc quán chiếubằng trí tuệ. Chẳng hạn, khi có được một cái gì đó tốt đẹp hay thích thú, chúng ta cảm thấy hạnh phúc. Hãy nhìn thật kỹ, thật liên tục vào cái đẹp, cái thích đó của mình.
Đôi khi, sau khi có được những điều tốt đẹp ấy
một thời
gian dài, chúng ta lại chán ngấy. Chúng ta muốn đem cho hoặc bán nó đi. Nếu không có ai muốn mua, chúng tasẵn
sàng vứt
bỏ nó. Tại sao vậy? Lý do đằng sau động lực ấy là gì? Tất cả mọi thứ đều vô thường,
đều thay đổi, chẳng có gì còn mãi, đó là lý do. Nếu không thể
bán được hay vứt đi được, thế là chúng ta bắt
đầu khổ
não vì nó.Toàn bộ vấn đề chỉ
là như thế, một khi một việc đã được hiểu rõ hoàn toàn, thì tất cả mọi việc khác cũng đều như thế, dù có khởi lên
bao nhiêu chăng nữa.  Đơn giản mọi việc chỉ
là như thế. Như một câu tục ngữ đã
nói: “Đã nhìn thấy một, sẽ thấy tất cả”.
Đôi khi chúng ta gặp phải những điều mình không thích.
Có lúc phải nghe những tiếng ồn và cảm thấy bực bội, khó chịu. Hãy quán sát, tìm hiểu và ghi nhớ nó. Bởi vì, một lúc nào đó
trong tương lai, có thể chúng ta lại
thích chính những tiếng ồn đó. Chúng ta có
thể thích
thú với chính những thứ mà
trước kia chúng ta đã
từng ghét cay ghét đắng. Hoàn toàn có
thể! Khi đó, chúng ta sẽ
thấy rất rõ
ràng bằng tuệ giác:
“A ha, tất cả mọi thứ đúng là vô thường, chẳng thể nào hoàn toàn mãn nguyện,
và vô ngã”. Ném chúng vào nghĩa địa của 3 đặc tướng phổ quát ấy. Sự chấp thủ,
dính mắc vào những thứ chúng ta đã,
đang và vẫn say mê, thích thú sẽ
không còn nữa.  Chúng ta sẽ
nhìn thấy tất cả mọi thứ về bản chất đều
như nhau. Tất cả mọi thứ chúng ta trải
nghiệm sẽ sản sinh ra tuệ giác xuyên thấu các
pháp.
Tất cả những điều tôi
nói ở trên chỉ đơn giản là
để bạn nghe và suy nghĩ. Tôi chỉ nói chuyện, thế thôi. Khi mọi người đến đây, tôi nói. Những thể loại
chuyện như thế này không phải là thứ để chúng ta ngồi
túm tụm và tán gẫu hàng giờ với nhau. Hãy thực hành nó.
Hãy đến đó và bắt tay làm đi. Giống như chúng ta gọi
bạn mình đi đâu đó.Chúng ta mời họ đi. Họ đã trả lời đồng ý.
Thế rồi chúng
ta im lặng lờ
tịt đi. Chúng
ta nói cho đủ, cho thật
đã, rồi bỏ đó. Tôi có thể nói cho bạn một vài điều về thiền tập,
bởi vì tôi đã hoàn thành công
việc đó. Nhưng bạn biết đấy, tôi có thể sai thì sao. Công việc của bạn là phải tìm hiểu và tự mình tìm ra xem những điều tôi nói đó có phải là
thật hay không.
[1]Chánh
niệm, 
hiểu một cách đơn giản, là sự ý thức về bản thân mình,
là sự chú ý và quan sát một
cách khách quan, như thật (ghi nhận thuần túy) những gì xảy ra trong thân và tâm mình
trong hiện
tại: các cử động của
cơ thể, các tính chất-cảm giác: nóng-lạnh, cứng-mềm, sự chuyển động…, cảm giác xúc chạm trên thân, cảm giácthở;
các cảm
xúc: buồn, giận, mừng, vui, cô đơn, tham dục… cho đến những hoạt động tâm lý vi tế: suy nghĩ,
tưởng tượng, cơ chế phiền não, những chiều hướng tâm lý, định kiến, chấp thủ, ảo
tưởng… Chánh
niệm, có thể nói là trung tâm của phương pháp tu tập tâm do Đức Phật thuyết dạy, dẫn đến phát triển trí tuệ trực giác,
nhận chân được sự thật tuyệt đối của
thân-tâm chúng
ta là vô thường,
khổ, vô
ngã, do đó đoạn diệt tận
gốc rễ những gốc phiền não-đau khổ (kiết sử)
trong tâm con người.
Pháp
hành thiền chánh niệm là sự huân
tập một thói quen luôn chú ý và ý thức về bản
thân mình trong mọi lúc,
luôn quay lại quan sát-cảm nhận-ghi nhận thân-tâm mình trong hiện tại,
một cách trực tiếp (chứ không phải bằngsuy nghĩ hay thông qua ý niệm, ngôn từ)…và
phát triển sự tỉnh giác, ý thức về chính mình một cách liên tục và sâu sắc. Người thực hành chánh niệm có thể tập ghi nhận những gì nổi bật,
dễ ghi
nhận nhất như là
các cử
động của thân khi đi,
đứng, nằm, ngồi, sinh hoạt…các cảm giác trong
thân, sự xúc chạm…hoặc là cảm giác thở
vào-ra khi ngồi thiền, cảm giác trên
chân khi bước đi… Thậm chí, Thiền sư Mahasi
Sayadaw còn dạy phương pháp niệm
thầm: chạm.. chạm, đưa tay..đưa tay, bước.. bước, quay người…quay người,
nóng..nóng, lạnh…lạnh, giận…giận, buồn..buồn…trong giai đoạn đầu thực hành để thiền sinh tự
nhắc mình quay lại ghi nhận bản thân. Khi chánh niệm đã liên tục và tự động, thì chỉ còn lại
sự ghi nhận thuần túy mà không cần phải gọi tên. Ghi nhận thuần túy là thể loại cơ bản và nguyên chất nhất
của chánh
niệm.
[2] Chữ
Pháp trong đạo Phật có ý nghĩa rất rộng. Pháp có nghĩa là tất cả mọi
sự vật, hiện
tượng trên thế gian;
Pháp có nghĩa là phương pháp tu tập dẫn
đến giải
thoát do Đức Phật thuyết dạy; Pháp cũng có nghĩa là các quy luật tự nhiên (di truyền,
nghiệp, tâm, vật lý-hóa học…). Chữ Pháp thiền sư nói
ở đây là các quy luật của
tâm và nghiệp.
[3][3] Thực ra các thuật ngữ Phật Pháp (nhất là trong Vi Diệu Pháp)
rất khó dịch và diễn giải bằng
tiếng Việt, bởi vì chúng không có mặt trong vốn từ vựng thuần Việt của chúng ta.
Các nhà nghiên
cứu Phật học ở Việt Nam từ trước đến nay đều phải vay mượn từ chuyên môn của Trung Quốc nên rất khó hiểu đối với đa phần người
học Phật. Hơn nữa nghĩa của chúng hoàn toàn mơ hồ, mỗi người hiểu một cách. Bởi vì bản thân thuật ngữ Phật họccủa Trung Quốc cũng là vay mượn từ tiếng Sankrit (mà
tiếng Sankrit là ngôn ngữ của
tầng lớp Bà
La Môn Ấn Độ, không phải ngôn ngữ Đức Phật sử dụng để thuyết pháp.
Khi thuyết
pháp ở vùng Bắc Ấn, Đức Phật sử dụngtiếng
Magandha, là ngôn ngữ gốc
của tiếng Pali dùng để ghi chép kinh điển Nguyên thủy ngày
nay). Thuật
ngữPhật học tiếng Hán đa
phần vay mượn từ các truyền thống tư tưởng và tôn giáo bản địa của Trung Quốc nên
nghĩa đã khác xa những gì Đức Phật thực
sự dạy cách đây hơn 2500 năm. Vì vậy, chúng tôi cố gắng tránh sử dụng các thuật ngữ Phật học gốc Trung Quốc,
mà sẽ diễn
giải, trong giới hạn từ
vựng, bằng ngôn ngữ thuần
Việt, để định nghĩa lại các từ chuyên môn gốc Trung Quốc chúng tôi buộc
phải sử
dụng. Tất nhiên, không thể nào hoàn toàn chính xác, bởi vì bản thân ngôn ngữ thuần
Việt của chúng
ta cũng rất hạn hẹp để giải thích nhữngthuật ngữ mà Đức Phật đã
dùng – chính Ngài cũng sử dụng một
số thuật
ngữ sẵn có của Sankrit
thời Ấn
Độ cổ, nhưng đã định nghĩa
lại để tránh hiểu sai. Nếu muốn thực sự hiểu, chúng ta phải
có sự nghiên
cứu sâu sắc và đầy đủ về kinh điển Pali, phải thực hành và thực sự kinh nghiệm trong thực tế những gì Đức Phật đã nói đến trong kinh điển.
Để thực
hành, với sự hướng dẫn của một vị thầy về pháp hành,
không cần quá nhiều đến các khái niệm và thuật ngữ Phật học mơ hồ ấy,
mà sẽ dẫn đến cái hiểu trực tiếp về chúng bằng kinh nghiệm thực tế.
Nếu chỉ dựa
vào những cái hiểu sai khi đọc kinh điển (đã dịch sang tiếng Việt) để gom
nhặt kiến
thức Phật Pháp, và dựa vào đó
để thực
hành, nhất định sẽ
dẫn đến sự lầm đường lạc lối không
thể tránh
khỏi. 
[4] Ngũ giới: một người Phật tử nên cố ý tránh xa 5 việc bất thiện loại thô tháo nhất, đó là sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối,
uống rượu và các chất say. Đây là nền tảng giới hạnh cơ
bản nhất cho sự phát triển tâm linh. Người làm những hành động bất thiện này, tùy theo mức
độ nặng nhẹ mà có thể sẽ phải tái sanh trong
nhữngcảnh giới khổ
như Súc
sanh, Atula, Ngạ quỷ, Địa ngục.
[5] Phiền não (kilesa)
là những gốc ô nhiễm trong
tâm, những trạng thái tâm
làm động
lực thúc đẩy chúng ta làm
các hành động bất thiện. Trong tâm một con người bình thường phiền não tồn tại dưới rất nhiều hình thức và cung bậc khác nhau. Nó thường được
rút gọn thành ba loại phiền não cơ
bản là tham, sân và si như là nguồn gốc của tất cả các loại phiền não. Trạng thái tồn tại căn bản của phiền não được
gọi là lậu
hoặc (āsava), nghĩa
là những gì bị tiết ra, rỉ ra như mủ rỉ ra từ vết thương. Lậu hoặc là những thứ cần phải đoạn trừ để đạt tới giác ngộgiải
thoát. Do đó, phẩm chất tâm linh cốt
yếu và cao cả nhất của một bậc thánh Alahán là āsavakkhaya, lậu tận. āsavadịch
ra theo nghĩa
đen là phiền não tùy miên (phiền nãongủ ngầm – anusaya
kilesa
), ám chỉ những
gốc ngủ ngầm nằm ẩn trong những tầng mức sâu kín nhất của tâm. Những gốc ngủ
ngầm này cực kỳ vi tế và
khó quan
sát, nhưng luôn chờ cơ hội để hiển lộ ra
thành các
loại phiền não, chi phối những
hành động về thân, khẩu, ý của chúng ta.
[6] Sát na định là
định kéo dài trong khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng lặp đi lặp lại liên tục.
Bởi vì chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc (sát na),
nên nó không nhất thiết phải
giữ nguyên trên một đề mục duy nhất, mà có thể trên nhiều đề mục thay đổi liên tục. Sát na định là nền tảng không thể không có để phát triển tuệ quán đến đạo quả, bởi vì dù có đắc các tầng thiền chỉ,
thì thiền
sinh cũng không thể quán chiếu khi còn ở trong tầng thiền ấy, mà phải
xuất ra khỏi nó, sử dụng sát na định để quán chiếu các đề mục thay
đổi trong thân-tâm, nhằm trực nhậncác đặc tính vô thường, khổ, vô ngã của
chúng. Thiền
chỉ sử dụng khái
niệm làm để mục, chỉ sử dụng một đề mục duy nhất và loại trừ các đề mục khác. Thiền vipassana sử dụng thực tại chân đế làm đề mục và đề mụcmở rộng,
bất cứ đối tượng nào trong thân tâm cũng
có thể là đề mục có giá trị như nhau. Khái niệm (tên gọi, ý niệm…
ta đặt cho sự vật, hiện tượng) thì không có vô thường,
khổ, vô
ngã. Chỉ có thực tại được nhận thức trực tiếp (các tính chất tự nhiên:
nóng, lạnh, cứng, mềm, nặng, nhẹ, chuyển động…) mới có vô thường,
khổ, vô
ngã.
(sutamphap.com)

NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁC 
Tuệ Uyển chuyển ngữ
NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT QUAN TRỌNG VỚI TÔN GIÁO KHÁC
MAJOR DIFFERENCES FROM OTHER REGILIONS
1- Không có một đấng Thượng Đế toàn năng trong Đạo Phật. Không có ai đưa ra sự tưởng thưởng hay trừng phạt trong một Ngày Phán Xét giả định.
1. There is no almighty God in Buddhism. There is no one to hand out rewards or punishments on a supposedly Judgement Day.
2- Đạo Phật hoàn toàn không phải là mộttôn giáo trong phạm vi của một đức tin vàthờ phượng do lòng trung thành một thếlực siêu nhiên.
2. Buddhism is strictly not a religion in the context of being a faith and worship owing allegiance to a supernatural being.
3- Không có khái niệm cứu rỗi trong Đạo Phật. Một Đức Phật không phải là một đấng cứu rỗi bằng năng lực cứu độ cá nhân của Ngài. Mặc dù người Phật tử quy y với Đức Phật như bậc hướng dẫn vô song, bậc chỉ con đường của tịnh hóa, nhưng người Phật tử không như đầu phụcnhư nô lệ. Người Phật tử không nghĩ rằng người ấy có thể đạt đến sự tịnh hóa chỉđơn thuần bằng việc quy y với Đức Phậthay chỉ bằng việc có niềm tin trong Ngài. Không phải vì năng lực của Đức Phật mà rửa sạch sự ô nhiễm của kẻ khác.
3. No saviour concept in Buddhism. A Buddha is not a saviour who saves others by his personal salvation. Although a Buddhist seeks refuge in the Buddha as his incomparable guide who indicates the path of purity, he makes no servile surrender. A Buddhist does not think that he can gain purity merely by seeking refuge in the Buddha or by mere faith in Him. It is not within the power of a Buddha to wash away the impurities of others
4- Một Đức Phật không phải là một hiện thân của thần linh/ Thượng đế (như một sốtín đồ Ấn Giáo tuyên bố). Mối quan hệ giữaĐức Phật và đệ tử của Ngài và tín đồ là của một vị thầy và học nhân.
4. A Buddha is not an incarnation of a god/God (as claimed by some Hindu followers). The relationship between a Buddha and his disciples and followers is that of a teacher and student.
5- Sự giải thoát tự ngã là trách nhiệm của tự thân. Đạo Phật không kêu gọi một đức tin mù quáng vô điều kiện đối với tất cả mọitín đồ Đạo Phật. Nó đặt nặng yếu tố tự chủ,tự giác và phấn đấu cá nhân.
5. The liberation of self is the responsibility of one’s own self. Buddhism does not call for an unquestionable blind faith by all Buddhist followers. It places heavy emphasis on self-reliance, self discipline and individual striving.
6- Quy y với Ba Ngôi tôn quý là Phật, Pháp và Tăng; không có nghĩa là tự đầu hànghay hoàn toàn nương tựa vào một sức mạnh ngoại tại hay một phía thứ ba cho việc hổ trợ hay cứu rỗi.
6. Taking refuge in The Triple Gems i.e. the Buddha, the Dharma and the Sangha; does not mean self-surrender or total reliance on an external force or third party for help or salvation.
7- Giáo Pháp (giáo lý Đạo Phật) tồn tại bấtchấp có một Đức Phật hay không. Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni (Đức Phật lịch sử) khám phá và chia sẻ giáo lý/ lẻ thật phổ quát với tất cả chúng sanh. Ngài không phải là đấng sáng tạo ra những giáo lý như vậy cũng không phải là sứ giả của một Thượng Đế toàn năng trao truyền những giáo lý như vậy cho người khác.
7. Dharma (the teachings in Buddhism) exists regardless whether there is a Buddha. Sakyamuni Buddha (as the historical Buddha) discovered and shared the teachings/ universal truths with all sentient beings. He is neither the creator of such teachings nor the prophet of an almighty God to transmit such teachings to others.
8- Nhấn mạnh một cách đặc biệt trong Đại thừa Phật giáo là tất cả chúng sanh có Phật tánh/ bản thể. Một người có thể thành một Đức Phật (một chúng sanh siêu việtGiác Ngộ) qua một tiến trình  tu tập nếu người ấy thực hành một cách cần mẫn vàđạt đến sự tịnh hóa của tâm thức (hoàn toàn không còn vọng tưởng hay phiền não).
8. Especially emphasized in Mahayana Buddhism, all sentient beings have Buddha Nature/ Essence. One can become a Buddha (a supreme enlightened being) in due course if one practises diligently and attains purity of mind (ie absolutely no delusions or afflictions).
9- Trong Đạo Phật, mục tiêu tối hậu của tín đồ/ hành giả là Giác Ngộ và/ hay giải thoátkhỏi vòng luân hồi; thay vì đi đến một Thiên đàng ( hay thế giới chư thiên trong phạm trù của vũ trụ quan Phật giáo).
9. In Buddhism, the ultimate objective of followers/practitioners is enlightenment and/or liberation from Samsara; rather than to go to a Heaven (or a deva realm in the context of Buddhist cosmology).
10- Nghiệp và nghiệp lực là viên đá nền tảng của giáo lý nhà Phật. Chúng đượcgiảng nghĩa rất kỷ lưởng trong Đạo Phật. Nghiệp liên quan đến một khái niệm siêu hình quan trọng liên hệ với hành động và những hệ quả của nó. Quy luật về nghiệp này giải thích vấn nạn của những khổ đau,bí ẩn của điều được gọi là số mạng và tiền định của một số tôn giáo, và ở trên tất cả sự bất bình đẳng hiển nhiên của loài người.
10. Karma and Karma Force are cornerstones in Buddhist doctrines. They are expounded very thoroughly in Buddhism. Karma refers to an important metaphysical concept concerned with action and its consequences. This law of karma explains the problem of sufferings, the mystery of the so-called fate and predestination of some religions, and above all the apparent inequality of mankind.
11- Tái sanh là một giáo lý chìa khóa khác trong Đạo Phật và nó liên hệ mật thiết với nghiệp. Có một sự khác biệt vi tế giữa tái sanh và đầu thai như được giải thích trong Ấn giáo. Đạo Phật phủ nhận lý thuyết về một sự đầu thai của linh hồn thường còn, cho dù nó được tạo ra bởi thượng đế hayhiện thân từ một bản thể thần linh.
11. Rebirth is another key doctrine in Buddhism and it goes hand in hand with karma. There is a subtle difference between rebirth and reincarnation as expounded in Hinduism. Buddhism rejects the theory of a transmigrating permanent soul, whether created by a god or emanating from a divine essence. 
12- Từ ái (sankrit: Maitri, pali: Metta) và Bi mẫn (karuna) đối với tất cả chúng sanh kể cả thú vật. Đạo Phật cấm chỉ triệt để việc giết hại súc sanh để cúng tế dù cứ lý do gì. Việc ăn chay được khuyến khích nhưng không bắt buộc.
12. Maitri or Metta in Pali (Loving Kindness) and Karuna (Compassion) to all living beings including animals. Buddhism strictly forbids animal sacrifice for whatever reason. Vegetarianism is recommended but not compulsory.
13- Tầm quan trọng của việc Không dính mắc – hành xả. Đạo Phật vượt khỏi hành động tốt và biểu hiện tốt. Hành giả không được dính mắc với những hành vi tốt hay ý tưởng làm việc tốt; bằng khác đi chỉ là mộthình thức khác của tham chấp.
13. The importance of Non-attachment. Buddhism goes beyond doing good and being good. One must not be attached to good deeds or the idea of doing good; otherwise it is just another form of craving.
14- Trong Đạo Phật, có sự quan tâm cho tất cả chúng sanh (đối với con người, như trong những tôn giáo khác). Người Phật tửnhìn nhận sự tồn tại của thú vật và nhữngchúng sanh trong các cõi khác của vòngLuân Hồi.
14. In Buddhism, there is consideration for all sentient beings (versus human beings, as in other religions). Buddhists acknowledge/accept the existence of animals and beings in other realms in Samsara.
15- Không có khái niệm thánh chiến trongĐạo Phật. Giết hại là phạm một giới đạođức then chốt trong Đạo Phật. Phật tử bịcấm chỉ triệt để việc giết hại người khácnhân danh tôn giáo, một lãnh tụ tôn giáohay viện cớ tôn giáo hay lý do trần tục.
15. No holy war concept in Buddhism. Killing is breaking a key moral precept in Buddhism. One is strictly forbidden to kill another person in the name of religion, a religious leader or whatsoever religious pretext or worldly excuse.
16- Khổ đau là một nền tảng khác của Đạo Phật. Đó là chân lý thứ nhất trong Tứ Diệu Đế. Khổ đau được phân tích và giải thíchrất tỉ mỉ trong Đạo Phật.
16. Suffering is another cornerstone in Buddhism. It is the first of the Four Noble Truths. Sufferings are very well analysed and explained in Buddhism.
17- Ý tưởng về nguyên tội hay tội tổ tôngkhông có vị trí trong Đạo Phật. Cũng thế, nguyên tội không nên bị đánh đồng với khổ đau.
17. The idea of sin or original sin has no place in Buddhism. Also, sin should not be equated to suffering.
18- Giáo lý Đạo Phật nói về sự không có khởi đầu và không kết thúc (vô thỉ và vô chung) đối với sự tồn tại của con ngườihay sự sống. Hầu như không có sự quan tâm đến nguyên nhân đầu tiên – hay như đầu tiên con người hình thành như thế nào? (Vì chúng ta sẽ đòi hỏi nguyên nhâncủa nguyên nhân đầu tiên …)
18. Buddhist teachings expound no beginning and no end to one’s existence or life. There is virtually no recognition of a first cause — e.g. how does human existence first come about? (Because we will ask for the cause of the first cause…).
19- Giáo pháp cung ứng một giải thích rấtchi tiết về giáo lý vô ngã (sankrit: anatman, Pali: anatta), nghĩa là không có thực thểlinh hồn (cho dù trong một kiếp sống hay nhiều kiếp sống).
19. The Dharma provides a very detailed explanation of the doctrine of anatman {anatta in Pali} or soullessness , i.e. there is no soul entity (whether in one life of many lives).
20- Đức Phật là toàn giác toàn tri nhưng không toàn năng. Ngài có thể thực hiện vô lượng công đức nhưng có 3 việc Ngài không thể làm (không thể dứt hết nghiệp chướng của chúng sanh, không thể dứt hết khổ đau của chúng sanh, không thể độ tận chúng sanh). Cũng thế, một Đức Phậtkhông tự nhận là một đấng tạo ra những sự sống hay vũ trụ.
20. The Buddha is omniscient but he is not omnipotent. He is capable of innumerable feats but there are three things he cannot do. Also, a Buddha does not claim to be a creator of lives or the Universe.
21- Bát nhã (Prajna [Sankrit], Panna [Pali])Tuệ trí Siêu việt chiếm vị trí chính yếu tronggiáo lý Đạo Phật. Đức Thế Tôn Thích Cagiảng dạy khái niệm Bát nhã trong gần 20 năm cho giáo đoàn. Nó được dạy để cân bằng từ bi và tuệ trí nghĩa là cảm xúc (đức tin) với nhân tố căn bản (chánh kiến/ lẻ thật/ luận lý).
21. Prajna [Panna in Pali] or Transcendent Wisdom occupies a paramount position in Buddhist teachings. Sakyamuni Buddha expounded Prajna concepts for some 20 years of his ministry. One is taught to balance compassion with prajna i.e.emotion (faith) with rationale (right understanding / truth / logic). 
22- Truyền thống và hành thiền trong Đạo Phật tương đối quan trọng và mạnh mẽ. Trong khi tất cả mọi tôn giáo dạy một sốhình thức hay sự đa dạng của thiền định /nhất tâm thiền (chỉ), thì chỉ có Đạo Phậtnhấn mạnh thiền quán/ thiền phân tích (Tuệ minh sát) như một khí cụ đầy năng lực để giúp hành giả trong việc tìm kiếmgiải thoát hay Giác Ngộ.
22. The tradition and practice of meditation in Buddhism are relatively important and strong. While all religions teach some forms or variations of stabilising/single-pointedness meditation, only Buddhism emphazises Vipassana (Insight) meditation as a powerful tool to assist one in seeking liberation/enlightenment.
23- Giáo lý Tánh không hay Sunyata là đặc biệt của Đạo Phật và nhiều khía cạnh của nó được giải thích cặn kẻ trong giáo lý Đạo Phật phát triển. Một cách tóm lược, giáo lýnày thừa nhận bản chất siêu việt của Thực tại Cứu kính. Nó tuyên bố thế giới hiện tượng là trống rỗng mọi giới hạn của diễn tả và rằng mọi khái niệm của thế giới nhị nguyên bị xóa tan.
23. The doctrine of Sunyata or Emptiness is unique to Buddhism and its many aspects are well expounded in advanced Buddhist teachings. Briefly, this doctrine asserts the transcendental nature of Ultimate Reality. It declares the phenomenal world to be void of all limitations of particularization and that all concepts of dualism are abolished.
24- Nhân duyên [Paticcasamuppada: Pali] hay Duyên khởi là một giáo lý then chốtkhác của Đạo Phật. Giáo lý này giải thíchrằng tất cả mọi hiện tượng tâm lý và vật lýcấu thành sự tồn tại cá thể là phụ thuộc lẫn nhau và điều kiện cần thiết hổ tương với nhau; điều này đồng thời diễn tả những gì làm chúng sanh bị vướng mắc vào vòngluân hồi.
24. Conditioned Arising [Paticcasamuppada in Pali] or Dependent Origination is another key doctrine in Buddhism. This doctrine explains that all psychological and physical phenomena constituting individual existence are interdependent and mutually condition each other; this at the same time describes what entangles sentient beings in samsara.
26- Khái niệm về địa ngục trong Đạo Phậtcũng rất khác biệt với nhưng tôn giáo khác. Nó không là một nơi cho kiếp đọa đày vĩnh viễn như cái nhìn của những tôn giáo thờ ‘đấng tạo hóa toàn năng’. Trong Đạo Phật, nó chỉ là một trong sáu cõi Luân hồi [chỗ tệ hại nhất của ba thế giới khổ đau không ai muốn]. Cũng thế, hầu như có vô số địa ngục trong vũ trụ quan Phật giáo như có vô số cõi Phật.
25. The concept of Hell(s) in Buddhism is very different from that of other religions. It is not a place for eternal damnation as viewed by ‘almighty creator’ religions. In Buddhism, it is just one of the six realms in Samsara [i.e. the worst of three undesirable realms]. Also, there are virtually unlimited number of hells in the Buddhist cosmology as there are infinite number of Buddha worlds.
26- Vũ trụ quan Phật giáo là khác biệt rõ ràng với những tôn giáo khác vốn thường nhìn nhận chỉ có thái dương hệ (Trái Đất) này như trung tâm của Vũ trụ và hành tinhduy nhất có sự sống. Quan điểm của Đạo Phật về một thế giới Phật (cũng được biết như Ba Nghìn Đại
Thiên thế giới) là có hàng tỉ thái dương hệ. Bên cạnh đó, giáo lý Đại thừa Phật giáogiải thích rằng có những hệ thống thế giớihiện tại như Tịnh độ của Đức Phật Di Đàvà Đức Phật Dược Sư.
26. The Buddhist cosmology (or universe) is distinctly different from that of other religions which usually recognise only this solar system (Earth) as the centre of the Universe and the only planet with living beings. The Buddhist viewpoint of a Buddha world (also known as Three Thousand-Fold World System) is that of one billion solar systems. Besides, the Mahayana Buddhist doctrines expound that there are other contemporary Buddha worlds like Amitabha’s Pure Land and Bhaisajyaguru’s world system.
27- Luân  hồi là một khái niệm nền tảng trong Đạo Phật và nó đơn giản là ‘những chu kỳ tồn tại bất tận’ hay những vòng sinh tử không ngừng của sáu cõi luân hồi. Hình thức tái sanh theo chu kỳ chỉ chấm dứt khi một chúng sanh thành tựu Niết bàn, có nghĩa là sự cạn hết nghiệp chướng, dấu vết thói quen, nhiễm ô và vọng tưởng. Tất cả những tôn giáo khác giảng rằng chỉ có một thiên đàng, một trái đất và một địa ngục, nhưng quan điểm này rất giới  hạn so với vòng luân hồi của Đạo Phật nơi màthiên đàng chỉ một trong sáu cõi luân hồivà  nó có 28 cấp độ/ tầng.
27. Samsara is a fundamental concept in Buddhism and it is simply the ‘perpetual cycles of existence’ or endless rounds of rebirth among the six realms of existence. This cyclical rebirth pattern will only end when a sentient being attains Nirvana, i.e. virtual exhaustion of karma, habitual traces, defilements and delusions. All other religions preach one heaven, one earth and one hell, but this perspective is very limited compared with Buddhist samsara where heaven is just one of the six realms of existence and it has 28 levels/planes.
Tuệ Uyển chuyển ngữ
Ẩn Tâm Lộ, Thursday, December 15, 2016

LIỀU THUỐC ĐẠO PHÁP  CHO NGƯỜI HÀNH THIỀN ĐAU ỐM 
(A good dose of Dhamma for Meditators when they are ill) 
Upasika Kee Nanayon | Hoang Phong chuyển ngữ


Bà Upasika Kee Nanayon
(1901-1978)

Lời giới thiệu của người dịch


Bà Upasika Kee Nanayon được dân Thái tôn kính như một trong những vị thiền sư lỗi lạc nhất của quê hương họ trong thế kỷ XX. Thế nhưng bà không bao giờ nhận mình là một ni sư và chữ Upasika là tiếng Pa-li và tiếng Phạn, chỉ có nghĩa là “Nữ cư sĩ”. Là một phụ nữ bình dị, ít được học hành, ngày còn trẻ phải giúp cha trông coi một cửa hàng tạp hóa thế nhưng bà đã thành đạt và đã khiến chúng ta không khỏi kinh ngạc trước sự uyên bác của bà. Sau khi thân phụ qua đời thì bà giao cửa hàng cho người em gái, rồi sửa chữa một ngôi chùa bỏ hoang không xa nhà, dưới chân một ngọn đồi cây cối xanh tươì, hầu tiếp tục tu tập.
Những người quen biết với bà trước đây thường đến viếng chùa và nghe bà giảng. Họ rất thích cách thuyết giảng trực tiếp và rất sâu sắc của bà. Tiếng đồn vang xa để rồi ngày nay ngôi chùa khiêm tốn của bà đã trở thành một trung tâm luyện tập thiền định nổi tiếng, và đặc biệt hơn nữa là dành cho phụ nữ. Một số bài giảng của bà được thu băng và ngày nay đã được xuất bản. Sự sâu sắc, trong sáng và khúc triết trong các bài giảng, phản ảnh các kinh nghiệm thiền định cũng như sự hiểu biết thâm thúy của bà về sự vận hành của tâm thức khiến chúng ta không khỏi kính phục. 
Thật vậy bà bước vào tâm thức chúng ta không khác gì bước vào gian nhà của bà vậy.  Bà biết rành mạch từng gian phòng, cách bày biện, các vật trang trí, không thiếu sót một ngõ ngách nào, một góc kẹt kín đáo nào. Thế nhưng chủ đích các bài giảng của bà không phải là giúp chúng ta tìm hiểu gian nhà của mình mà là sửa chữa, dọn dẹp và quét tước sạch sẽ gian nhà ấy để biến nó trở thành một cõi Niết-bàn. Bài giảng dưới đây của bà được trích từ quyển “Pure and Simple”  do nhà sư người Mỹ Thanissaro Bhikkhu dịch từ tiếng Thái ra Anh ngữ. 
Phần I
        Ốm đau thông thường được xem như là một thứ gì đó mà sớm muộn tất cả chúng ta đều sẽ không sao tránh khỏi. Thế nhưng cũng có một thứ “bệnh” không làm phương hại đến cuộc sống thường nhật nên người ta không hề xem nó là một thứ bệnh. Trên khắp thế giới mọi người đều xem thứ “bệnh” ấy đơn giản chỉ là một thể dạng tự nhiên nơi mỗi con người. Tuy nhiên nếu suy xét cẩn thận thì người ta sẽ nhận thấy cái thân xác được xem là “bình thường” đó thật ra là đang đau ốm bởi vì các thành phần vật chất và tâm thần tạo ra nó suy thoái trong từng giây phút một, thế nhưng không mấy ai nghĩ đến điều đó mà thôi.    
        Những người khỏe mạnh thì làm hết việc này đến việc nọ, suy nghĩ, lo lắng, thế nhưng toàn là những chuyện phù phiếm chẳng ích lợi gì cả. Những kẻ ốm đau thì may mắn hơn nhiều, tuy liệt giường nhưng chẳng phải làm gì, ngoài việc nghĩ đến các sự bực dọc và đau đớn của mình. Tâm thức họ không bị tràn ngập bởi đủ mọi thứ lo toan, cũng không suy nghĩ vẩn vơ hết chuyện này đến chuyện khác, mà duy nhất chỉ lo lắng vể những sự đau đớn của mình…, nhưng thật ra thì những sự đau đớn ấy cũng có thể loại bỏ được bất cứ lúc nào.       
        Các bạn không nhận thấy sự khác biệt giữa hai trường hợp trên đây hay sao? Trong những lúc mà các bạn bận rộn vì phải lo toan đủ mọi thứ thì một sự “trống không” cũng có thể xảy đến trong tâm thức, thế nhưng sự “trống không” ấy cũng chỉ là một trò giả tạo, không phải là “Tánh Không” đích thật (tình trạng bận rộn không cho phép mình nghĩ đến những chuyện khác quan trọng hơn và hữu ích hơn, chẳng hạn như các sự đau đớn và bệnh tật. Tình trạng “không nghĩ đến các chuyện ấy” có thể xem như một sự “trống không”, tức không một chút ý thức nào về bản chất vô thường, khổ đau và cái chết của chính mình. Đấy cũng tương tự như một trò chơi ú tim, nấp phía các sự bận rộn hay chui vào một xó kẹt trong tâm thức mình để trốn né thực tại). Trái lại mỗi khi đau ốm nằm liệt giưòng, thì đấy cũng là một dịp giúp các bạn nghĩ đến vô thường, khổ đau và vô ngã (không có “cái tôi”) là những gì đang hiện lên với mình, và đấy mới là những mối lo toan mang lại lợi ích thật sự. Các bạn phải luôn để tâm đến một điều duy nhất là không được xem những gì đang phải gánh chịu sự đau đớn là mình.  Đối với các hiện tượng thể xác và tâm thần (có thể hiểu là các cấu hợp hay ngũ uẩn tạo ra một cá thể) mà các bạn cảm nhận được, thì cũng chỉ nên xem chúng như là những hiện tượng thiên nhiên đang trôi đi và tiếp tục trôi đi. Chúng không phải là mình, không thuộc của mình. Các bạn không có một quyền lực nào đối với chúng cả. Hãy nhìn vào tất cả những gì đang khiến các bạn phải đảo điên để tự hỏi xem mình có một tí xíu quyền lực nào đối với chúng hay không? Hoàn toàn không. Các bạn nên hiểu rằng điều đó đúng với tất cả mọi người.    
        Dù thân xác đang bị bệnh gì thì điều đó cũng không quan trọng mấy. Đáng ngại hơn nhiều là căn bệnh ở bên trong tâm thức mình. Trong những lúc bình thường, chúng ta không bao giờ nghĩ đến đến các thứ bệnh trong tâm thức, chẳng hạn như thèm muốn, bám víu, đam mê… (kinh sách gọi là kilesa/klesa, là các thứ “xúc cảm hay các yếu tố bấn loạn trong tâm thức”, hay các “độc tố tâm thần”, kinh sách gốc Hán ngữ gọi là “phiền não”!?). Chúng ta chỉ biết lo sợ về những thứ bệnh tật trên thân xác, e sợ những gì thật kinh khiếp bất thần xảy ra trên cơ thể mình. Dù cố gắng cách mấy để ngăn ngừa chúng và lúc nào cũng cứ nơm nớp mong chúng đừng xảy đến, thế nhưng một lúc nào đó thì chúng ta cũng không sao né tránh được chúng. Thuốc men chữa trị bệnh tật trên thân xác cũng chỉ công hiệu tạm thời mà thôi. Những người từng sống trước đây, dù không bị những thứ bệnh tật ngặt nghèo, nhưng tất cả đều đã từ giã chúng ta. Tất cả đều phải bỏ lại thân xác mình.
        Khi nào biết thường xuyên suy tư theo chiều hướng đó thì các bạn sẽ nhận thấy được sự thật về vô thường, khổ đau và vô ngã đối với bản thân mình. Sau đó dần dần các bạn sẽ quán thấy dễ dàng hơn bản chất ảo giác của mọi sự vật, và buông bỏ chúng ngày càng dễ dàng hơn.
        Các bạn hãy cố gắng buông bỏ và cố nhìn xem: vậy thì ai đang đau đớn đó? Có phải là “mình” đang đau đớn, hay là sự đau đớn phải chăng cũng chỉ là một dhamma ? (dhamma trong trường hợp này có nghĩa là một hiện tượng/sự kiện/biến cố. Nên hiểu rằng chữ dhamma  tiếng Pa-li, tiếng Phạn là dharma, có nhiều nghĩa khác nhau, trong số này có hai nghĩa chính yếu nhất, trước hết là Đạo Pháp/Spiritual Path hay Giáo Huấn của Đức Phật/Buddhadharma, nghĩa thứ hai là “hiện tượng”/phenomenon.) Các bạn phải suy nghiệm thật sâu xa về điều này để nhận thấy rằng thật ra không có một “cái tôi” nào đang đau đớn cả. Căn bệnh (hay cơn đau) không phải là “của mình” mà là của cơ thể, một căn bệnh của thân xác. Cơ thể vật chất và các yếu tố tâm thần đương nhiên phải biến đổi và chịu những sự đau đớn gây ra bởi sự biến đổi đó, thế nhưng trong sự biến đổi và đau đớn ấy không hề có một “cái ngã” nào cả. Các bạn phải tập trung sự chú tâm hướng vào các cảm nhận đó, quan sát chúng, tìm hiểu chúng, hầu quán thấy chúng một cách thật minh bạch (sự đau đớn là của thân xác, là một hiện tượng/dhamma trên cơ thể; bên trong sự đau đớn đó không có “cái tôi” nào cả để cùng đau đớn với nó). Hãy biến sự nhận biết ấy trở nên hoàn toàn trong sáng, nó sẽ giải thoát các bạn khỏi mọi sự đau đớn và bấn loạn. Đấy là cách mà các bạn làm cho tất cả mọi thứ khổ đau phải chấm dứt. Đối với các cấu hợp (cá thể con người là một tổng thể gồm năm thành phần “cấu hợp”, kinh sách gốc Hán ngữ gọi là “uẩn”) thì chúng cứ tiếp tục hiện ra, già nua, bệnh tật và chết, và đấy là chuyện của chúng. Khi nào các nguyên nhân và điều kiện (cơ duyên) tạo ra chúng không còn hội đủ nữa thì chúng chui vào quan tài.
        Tuy nhiên cũng có một số người rất hãnh diện về sức khỏe của mình, lại bỗng nhiên lăn đùng ra chết. Trong các trường hợp đó tâm thức họ không kịp ý thức về những gì xảy đến với họ. Số phận của họ sẽ tệ hại hơn nhiều so với những người đau ốm nằm dài trên giường, bởi vì người lâm bệnh có cơ hội quan sát sự đau đớn của mình hầu phát huy được sự buông xả. Không nên sợ hãi sự đau đớn! Nếu nó xảy đến thì cứ mặc nó, không nên để cho tâm thức phải đau đớn cùng với nó, mà nên nghĩ như thế này: vậy thì tâm thức mình đã thực hiện được sự trống không về “cái tôi” và cái “của tôi” hay chưa? (xin mạn phép ghi chú thêm là đối với Phật giáo Tây Tạng/Kim Cuơng Thừa và Phật giáo Theravada, thì cảm tính hay sự cảm nhận sau cùng hiện lên trong tâm thức trước khi chết sẽ ảnh hưởng đến sự tái sinh, có nghĩa là sẽ hướng sự tái sinh của mình phù hợp với các cảm tính sau cùng đó. Thí dụ trong khi hấp hối mình biết buông xả, không bám víu bất cứ gì cả, mà chỉ chú tâm phát động lòng từ bi, mở rộng con tim mình…, thì các xúc cảm đó sẽ hướng sự tái sinh của mình vào những hoàn cảnh tốt đẹp. Trái lại các sự sợ hãi, tức giận, lo buồn, bám víu… trong lúc hấp hối sẽ hướng sự tái sinh của mình theo các chiều hướng bất thuận lợi hơn. Do đó trong khi đau ốm không nên để mình bị bấn loạn vì các cơn đau cùng những sự tiếc nuối và bám víu).
        Các bạn nên nhìn vào bên trong chính mình hầu quán thấy mọi sự thật minh bạch, chỉ cần như thế là đủ, không phải tìm hiểu bất cứ gì khác cả. Thuốc thang giúp mình khỏi bệnh hoặc bớt đau đớn là chuyện bình thường; nếu không thấy thuyên giảm thì cũng là chuyện bình thường. Quan trọng hơn cả là trái tim mình (tâm của mình) phải trống không về “cái tôi” và cái “của tôi” (thân xác không phải là tôi, những sự đau đớn là của thân xác không phải là của tôi, kể cả tâm thức cũng không phải là tôi hay của tôi); nếu làm được như thế thì sẽ chẳng có một sự đau đớn nào bên trong nó (tức là trong “trái tim” mình, “trái tim” ở đây có nghĩa là tâm thức và xúc cảm. Trong các ngôn ngữ Á Châu và theo “tâm lý học” Đông Phương thì “tâm thức” nằm trong tim, nói một cách khác là chữ “tâm” có hai nghĩa: tâm thức và trái tim). Đối với sự đau đớn của các cấu hợp thì cứ mặc nó (đau đớn là chuyện tự nhiên của các cấu hợp tạo ra một cá thể).
        Hãy xem đau ốm là một dịp may, được nằm trên giường chẳng phải làm gì cả. Đó là dịp giúp mình luyện tập thiền định về sự quán thấy sâu xa (vipassana) trong từng khoảnh khắc một (trong những lúc khỏe mạnh thì thường xuyên bị xao lãng vì công việc). Dù mình đang được điều trị ở bệnh viện hay nằm nhà thì điều đó không quan trọng cho lắm. Không nên để tâm lo lắng về việc mình được điều trị tại nơi này hay nơi nọ. Hãy trút bỏ ý nghĩ đó và giữ tâm trí trống không về mọi suy nghĩ và thắc mắc. Các bạn không cần phải dán lên tâm thức mình cái nhãn hiệu cho biết là mình đang ở đâu cả (một cách giúp mình buông bỏ sự sợ hãi, và bất toại nguyện vì lo sợ mình không được điều trị đúng mức).    
        Thật ra các cấu hợp không trú ngụ chung với “mình”. Chúng hoàn toàn trống không về bất cứ một “cá thể con người” nào trú ngụ bên trong chúng. Chúng hoàn toàn trống không về bất cứ một “cái tôi” hay cái “của tôi” nào. Khi nào tâm thức đạt được thể dạng đó thì nó sẽ không còn cần đến bất cứ gì khác. Nó không đòi hỏi là phải được ở tại nơi này, phải đến nơi khác, hoặc bất cứ đâu. Đấy là sự chấm dứt tuyệt đối của khổ đau và mọi thứ căng thẳng. 
        Khi nào tâm thức không còn bị thâm nhập bởi các cảm nhận thích thú hay đau đớn thì nó sẽ được giải thoát, từ bên trong nó và bởi chính nó, phù hợp với bản chất [nguyên sinh] của chính nó. Tôi khuyên các bạn nên quán xét thật cẩn thận cung cách đó của tâm thức, tức là trong tình trạng trống không của nó, phù hợp với bản chất của chính nó, và cũng có nghĩa là nó không tạo ra cho nó một sự thèm muốn nào, không tìm kiếm một sự thích thú cũng không gạt bỏ một sự đau đớn nào.
        Khi nào tâm trí đã hoàn toàn trống không đúng với bản chất tự nhiên của nó, không còn một cảm tính chiếm hữu nào dấy lên, thì nó cũng sẽ gỡ bỏ được bất cứ nhãn hiệu nào (một dòng chữ nào) dán (viết) lên nó. Dù cho các tư duy có hiện lên thì nó cũng xem chúng hoàn toàn vô thực thể, có nghĩa là trống không về một “cái ngã”.  Chúng chỉ là các sự cảm nhận hiện lên và tan biến (tư duy là đối tượng cảm nhận của tâm thức, tương tự như sự đau đớn là đối tượng cảm nhận của thân xác). Các sự cảm nhận lướt qua tâm thức mình và trôi đi, và chỉ có vậy (không thể nào ngăn chận tư duy hiện lên trên dòng luân lưu của tri thức được, thế nhưng không nên để cho chúng gây ra một tác động nào. Trong những lúc ngồi thiền, tư duy vẫn tiếp tục hiện lên, nhưng không nên để cho chúng dừng lại, cứ để chúng nhẹ nhàng trôi đi. Đến một lúc nào đó thì chúng sẽ thưa dần, yếu đi và tan biến hết).
        Tóm lại các bạn phải quan sát các hiện tượng hiện ra và tan biến, nói một cách khác là phải theo dõi sự biến động liên tục của các hiện tượng trong thực tại. Đấy là cách giúp tâm thức tìm thấy sự trống không một khi mà nó không còn gán cho các hiện tượng một ý nghĩa nào nữa, tức không dán một nhãn hiệu (hay viết một dòng chữ) nào lên các hiện tượng ấy mỗi khi chúng hiện lên. Sự “hiện ra và biến mất” đó cũng là đặc tính chung của các cấu hợp (ngũ uẩn tạo ra một cá thể), các bạn phải xem đấy là những gì thuộc bản chất tự nhiên của chúng thế nhưng không được để tâm thức dính líu vào đấy, không nên nắm bắt gì cả. Hiểu được điều đó sẽ mang lại cho các bạn thật nhiều lợi ích.
        Các bạn không thể nào ngăn chận được các sự thích thú và đau đớn xảy đến với mình, cũng không thể ngăn chận tâm thức mình không dán các nhãn hiệu lên mọi sự vật đưa đến mọi thứ tư duy, tuy nhiên các bạn cũng có thể chuyển sự diễn tiến đó theo một chiều hướng khác hơn. Nếu tâm thức dán một nhãn hiệu vào một cảm nhận nhằm nói lên: “Tôi đau”, thì các bạn phải tìm hiểu xem cái nhãn hiệu ấy có đúng thật là như thế không, và sau khi đã “đọc” cái nhãn hiệu ấy cẩn thận thì nhất định các bạn sẽ khám phá ra là nó sai. Bởi vì nếu đúng thì cái nhãn hiệu ấy phải nói lên như sau: sự đau đớn ấy nào có phải là tôi đâu, nó hoàn toàn trống không (không có “cái tôi” nào bên trong nó cả). Hơn nữa dù có nghĩ rằng: “Tôi đang đau”, thì sự suy nghĩ ấy cũng sai nốt. Các bạn phải hướng vào tư duy qua một góc nhìn khác hơn: có nghĩa là phải xem tư duy là một thứ gì đó vô thường, bất toại nguyện, không phải là thuộc của mình (các cảm nghĩ của mình không trường tồn, mà chỉ phản ảnh các sự bấn loạn luôn biến động trong tâm thức liên quan đến nghiệp của mình, chúng không hàm chứa một bản chất đích thật hay một thực thể nào cả).      
        Dù bất cứ những gì xảy đến với mình thì phải quán xét chúng tường tận và buông bỏ chúng. Các bạn phải thật cảnh giác không được bám víu vào các tư duy và cảm nhận của mình, tâm thức nhờ đó sẽ giữ được sự trống không của nó, phù hợp với bản chất của chính nó. Ngay cả trường hợp mà sự đau đớn trở nên quá gay gắt, hoặc tâm thức rơi vào một trạng thái tiêu cực (lo buồn, sợ hãi, bực tức, yếm thế…) thì các bạn cũng cứ tiếp tục nhìn vào bên trong chính mình, giữ sự tiếp xúc trực tiếp với sự cảm nhận của tâm thức về chính nó, như thế sẽ không có một tư duy nào hiện lên khuấy động mình nữa. Khi nào các bạn cảm nhận được sự trống không của tâm thức thì khi đó nếu có một sự bấn loạn hay một cảm tính bực dọc nào dấy lên khuấy động mình, thì các bạn cũng sẽ hiểu được ngay nguyên nhân làm phát sinh ra nó nhất thiết là một sự hiểu biết sai lầm, không phản ảnh một hiện thực tuyệt đối nào cả. Sự hiểu biết đúng đắn sẽ tức khắc loại bỏ các sự hiểu biết sai lầm.      
        Nếu muốn thường xuyên duy trì được nền tảng của sự hiểu biết đúng đắn như trên đây thì trước hết các bạn phải tập chủ động tâm thức mình, đồng thời tập trung chú tâm để suy tư và tìm hiểu về các hiện tượng đau đớn và khổ đau. Hãy cố duy trì sự chủ động đó cho đến khi nào tâm thức tự nó hòa nhập với sự trống không trong sáng bên trong trái tim (nội tâm) mình. Nếu các bạn thực hiện được điều đó đến chỗ tột cùng thì sự đình chỉ tối thượng của khổ đau cũng sẽ hiện ra tức khắc, đúng vào thời điểm mà tâm thức bắt đầu trở nên trống không.
        Thế nhưng nếu muốn thực hiện được như thế thì các bạn phải luyện tập kiên trì. Mỗi khi sự đau đớn phát hiện dù chịu đựng được hay quá gay gắt thì cũng không nên dán cho nó một nhãn hiệu nào cả. Đối với một sự cảm nhận mang tính cách thích thú cũng thế, cũng không nên xem đó là sự thích thú “của mình”. Hãy để cho nó trôi qua, đấy là cách giúp cho tâm thức tìm thấy sự giải thoát trong từng khoảnh khắc một – có nghĩa là nó hoàn toàn trống không về bất cứ một sự nắm bắt hay bám víu nào vào “cái tôi”. Các bạn phải luôn vận dụng tất cả sự tỉnh thức và năng lực của mình hướng vào việc thực hiện đó.
        Mỗi khi ốm đau, nằm dài ra đấy để tha hồ suy nghĩ về những nỗi khổ đau của mình, thì đấy là một dịp may giúp mình trông thấy được Con Đường, quán nhận được sự thật sâu xa của mọi sự vật (vô thường, khổ đau và không thật) để mà buông bỏ chúng. Đấy là cơ may của các bạn mà kẻ khác không có được. Nhiều người tất tả, chạy ngược chạy xuôi, xốc vác mọi việc, và dù có tự khoe là tâm trí mình luôn thảnh thơi đi nữa, thì cũng không thể may mắn hơn các bạn được. Một người liệt giường có nhiều cơ may phát huy qua từng hơi thở – ra và vào – một sự quán thấy sâu xa về mọi sự vật. Nếu luyện tập theo Giáo Huấn của Đức Phật thật chuyên cần cho đến khi nào đạt được sự hiểu biết minh bạch về bản chất sâu kín của mọi sự vật – tự chúng là như thế, bởi vì chúng cũng chỉ là như thế – thì đấy là cách cho thấy mình không lãng phí sự hiện hữu dưới thể dạng con người của mình.
        Mỗi khi đề cập đến bản chất đích thật của những gì bên ngoài thì có nghĩa là nói đến sự biến đổi của các hiện tượng trong thực tại, trong đó kể cả năm thứ cấu hợp (ngũ uẩn tạo ra một cá thể). Các bạn nên tìm cách khám phá ra phương cách vận hành của chúng, và một khi đã hiểu được bản chất của sự vận hành ấy thì các bạn tất sẽ phải tỉnh ngộ, không còn bám víu vào chúng và sẽ buông bỏ chúng (năm cấu hợp cũng chỉ là ảo giác, phù du, một sự kết hợp tạm thời nhờ vào cơ duyên mà có). Sau khi tâm thức đã đạt được thể dạng buông bỏ đó thì trong giai đoạn kế tiếp các bạn nên tìm hiểu nó thật cẩn thận xem nó trống không như thế nào và cứ tiếp tục suy tư sâu xa thêm nữa cho đến khi quán thấy được Tánh Không tối thượng. Thể dạng Tánh Không đó nằm ở một nơi sâu kín nhất bên trong bản thể đích thật của các bạn, nơi đó không còn hiện lên bất cứ một sự tạo tác tâm thần nào, không có gì hiện ra cũng chẳng có gì biến mất, không có một sự biến đổi nào nữa cả. 
        Khi nào quán thấy được bản chất của các thứ bên ngoài (trong đó kể cả năm thứ cấu hợp/ngũ uẩn) thật đúng đắn cho đến khi tất cả đều trở nên minh bạch, thì tâm thức sẽ buông bỏ, và tiếp tục buông bỏ. Và cũng tức khắc sau đó các bạn sẽ đương nhiên nhận thấy được một cách thật trong sáng bản thể sâu kín bên trong con người của các bạn – nơi đó hoàn toàn trống không, không cón sự xoay vần giữa sự sinh và cái chết, tuyệt đối không có gì được tạo tác (nên hiểu sự tái sinh và cái chết cũng là những gì hiện lên và biến mất trên dòng luân lưu của tri thức, tương tự như tư duy và xúc cảm xô đẩy nhau hiện ra và biến mất trên dòng tri thức đó. Dòng tri thức sau khi đã loại bỏ được những sự hiển hiện và biến đổi đó trên dòng luân lưu của nó sẽ trở nên tĩnh lặng và an bình). Đó là thể dạng trống không tuyệt đối của Tánh Không, không còn một nhãn hiệu nào, một dòng chữ nào nữa cả. Đấy cũng là những gì mà tôi ước mong các bạn sẽ tự khám phá thấy bên trong tâm thức mình một cách thật trong sáng.     
        Sự trống không bình thường của tâm thức cũng có thể mang lại đôi chút ích lợi (trong cuộc sống thường nhật – chẳng hạn trong những lúc tản bộ hay dạo chơi ở một nơi vắng vẻ – đôi khi chúng ta cũng tìm thấy một sự thảnh thơi, nhàn nhã, không lo lắng hoặc “quên hết” mọi chuyện. Đấy chỉ là cách tạm thời lẫn tránh những sự tấn công dồn dập của các yếu tố bấn loạn/kilesa trong tâm thức mình, nhưng tuyệt nhiên không phải là thể dạng trống không hay Tánh Không đích thật của tâm thức), sự trống không sâu xa ích lợi hơn thế nhiều. Tánh Không đích thật trống không đối với cả bản thể đích thật của tất cả những gì bên trong chính mình. Tánh Không đó mới thật sự đáng để chúng ta khám phá và tìm hiểu nó.
        Tánh Không ấy là một thứ gì đó mà các bạn phải tự mình nhận biết. Không có ngôn từ nào có thể diễn tả được để mà nói lên với các bạn hầu giúp các bạn hình dung ra nó, và các bạn chỉ có thể cảm nhận được nó khi nào các bạn đã thực hiện được nó mà thôi. Tuy nhiên tôi có thể cam đoan với các bạn rằng sớm muộn, vào một lúc nào đó thì nhất định các bạn cũng sẽ buông bỏ được tất cả mọi sự vật trong một thể dạng mà người ta gọi là “không còn một dấu vết nào lưu lại” (sự giác ngộ).
        Nếu các bạn kiên trì phát huy đều đặn sự quán thấy nội tâm như trên đây trong từng ngày và từng khoảnh khắc một, thì cái “khoảnh khắc mà tâm thức buông bỏ được tất cả không còn một dấu vết nào lưu lại” sẽ tự động hiện lên với mình. Tâm thức sẽ “nhận biết” được thể dạng đó của nó bởi chính nó và từ bên trong chính nó. Do đó các bạn không nên để tâm thức bị chi phối bởi các cảm nhận thích thú hay đau đớn. Các bạn hãy thường xuyên tập trung sự chú tâm vào sự lắng sâu của tâm thức bên trong nó và bởi chính nó. 
        Các bạn không nhận thấy những gì trên đây thật hết khác biệt so với những lúc trước đây khi các bạn còn sung sức và khỏe mạnh, chạy ngược chạy xuôi, lo toan hết chuyện này đến chuyện khác hay sao? Vì thế chẳng có gì tệ hại khi phải gánh chịu sự đau đớn. Sở dĩ tệ hại là vì mình quá dại dột dán các nhãn hiệu lên mọi sự vật để mà gán cho chúng một ý nghĩa nào đó. Thông thường khi trông thấy một kẻ nào đó ốm đau và chết thì lúc đó người ta mới thức tỉnh và nghĩ đến sự phù du của sự sống. Trong những lúc bình thường không mấy ai nghĩ đến cái bản chất ấy của chính mình, hoặc có nghĩ đến đi nữa thì cũng chỉ được một lát, sau đó thì quên ngay và lại đầu tắt mặt tối lao mình vào các chuyện lo toan khác. Họ không bao giờ biết để cho sự thật ấy thấm sâu vào con người mình để mà suy nghĩ về bản chất vô thường không bao giờ bỏ quên mình. Khi mà họ còn đủ sức để làm hết việc này đến việc khác, suy nghĩ hết chuyện này đến chuyện nọ, kể hết câu chuyện này bắt sang câu chuyện kia, thì đấy là cách khiến họ mất hết định hướng trong cuộc sống mà thôi.    
        Việc luyện tập thiền định về sự quán thấy sâu xa (vipassana) không phải chỉ cần theo một khóa ẩn cư trong vài tháng là đủ. Tu tập như thế không thể so sánh được với những gì các bạn đang làm (những người đến tu tập với bà Upasika Kee Nanayon trong ngôi chùa của bà), có nghĩa là phải luyện tập mỗi ngày, từ sáng đến chiều và cả ban đêm, chỉ trừ khi ngủ. Mỗi khi sự đau đớn vụt trở nên gay gắt thì đấy là lúc thuận lợi nhất để thiền định, bởi vì đó là dịp giúp mình ý thức được một cách thật minh bạch vô thường là gì, đau đớn là gì, khổ đau là gì và sự bất lực của mình trước tình trạng biến động của mọi sự vật là gì.
        Vậy các bạn phải tìm hiểu những thứ ấy ngay tại nơi này, trước mắt các bạn trong lúc này. Do đó các bạn không nên tránh né sự đau đớn. Hãy luyện tập thiền định về sự quán thấy sâu xa hầu nhận thấy bản chất đích thật của sự đau đớn cũng đơn giản chỉ là một dhamma (hiện tượng/pháp), và sau đó thì cứ để cho nó trôi qua, trôi qua và trôi qua. Nếu làm được như thế thì các bạn sẽ không bị nó đánh lừa mình. Đấy là con đường đưa đến sự giải thoát khỏi khổ đau. 
        Và đấy cũng là việc cần phải làm trước khi cái chết xảy đến với mình, các bạn phải luôn để tâm đến điều đó, không nên chờ cái chết gần kề thì mới luyện tập! Phải luyện tập thật đều đặn, luôn nhìn vào bên trong chính mình. Nếu căn bệnh thuyên giảm thì các bạn sẽ tự nhận biết từ bên trong chính mình, nếu gia tăng thì các bạn cũng sẽ nhận biết từ bên trong chính mình (căn bệnh ở đây là sự khổ đau của tâm thức, tu tập có thăng tiến hay không thì mình phải tự nhận biết lấy mình, người thầy không đoán được chuyện đó). Nếu phát huy được tầm nhìn hướng vào bên trong chính mình theo phương cách đó thì tâm thức sẽ vượt thoát sự đần độn và các sự quán thấy sai lầm của nó về mọi sự vật, nói một cách khác thì những sự thèm muốn và ô nhiễm (kilesa/các xúc cảm bấn loạn trong tâm thức) sẽ không còn gây tác hại cho tâm thức như trước đây nữa.    
        Đây là cơ hội giúp các bạn tu tập Dhamma (Dhamma trong trường hợp này là Đạo Pháp hay Giáo Huấn của Đức Phật, không có nghĩa là một hiện tượng), vậy các bạn nên dồn tất cả nghị lực và sự tỉnh giác vào việc đó. Hãy xem kiếp sống này là kiếp nhân sinh cuối cùng của mình. Không nên tái sinh trở lại, nếu không thì mọi sự lại cũng sẽ chẳng khác gì như hiện nay, các khó khăn cũ rích lại xảy đến với mình, và cứ thế chúng theo nhau xảy đến, không dừng lại được. Một khi sự sinh xảy ra thì tiếp theo đó sẽ có sự già nua, bệnh tật và cái chết. Tất cả đều phù hợp với sự ô nhiễm (kilesa/các sự bấn loạn) bên trong tâm thức các bạn, các bạn sẽ cảm nhận được hậu quả mang lại từ các hành động nối tiếp nhau của mình (hành động tức là nghiệp, càng hối hả hăng say, nghiệp càng xô đẩy nhau hiện lên và lưu lại các dấu vết trên dòng tri thức của mình), tốt cũng có, xấu cũng có. Nói chung đấy là chu kỳ xoay vần của khổ đau. Vậy tốt hơn hết là nên thoát khỏi sự sinh. Các bạn không nên để mình thèm khát, bởi vì bất cứ gì mà mình thèm khát đều là vô thường, khổ đau và vô thực thể.    
        Sự thèm khát (desire/ham muốn, bám víu) phát sinh từ các yếu tố bấn loạn trong tâm thức (trong bản tiếng Anh là “defilement and craving”, trong bản tiếng Pháp bà Jeanne Schut dùng thẳng tiếng Pa-li là “kilesa” để chỉ định những sự bấn loạn này). Các bạn phải loại bỏ các thứ ấy ngay tại vị trí mà chúng hiện ra (vị trí ở đây có nghĩa là lục giác gồm: ngũ giác và tâm thức). Thèm khát cũng chỉ đơn giản là một sự ham muốn giác cảm, ham muốn dục tính, ham muốn được trở thành như thế này hay thế kia (phản ảnh sự thích thú) hoặc không trở thành(nói lên sự ghét bỏ) – tất cả sẽ khiến hạt giống của sự sinh nẩy mầm trong tim (tâm) mình. Vì thế các bạn phải tập trung tất cả sự chú tâm hướng thẳng vào bên trong chính mình, nhìn đúng vào những gì cần phải nhìn, hầu giúp mình hiểu rằng sự bám víu dù có thể đưa đến sự sinh qua một sự tiếp xúc giác cảm (tức mang lại cho mình các sự ham muốn, thích thú, ghét bỏ là các nhân tố trói buộc mình vào vòng luân hồi), thế nhưng ở cấp bậc tâm thức, tức là trên dòng tri thức, thì chỉ nên xem nó là một sự “hiểu biết” và cứ để cho sự “hiểu biết” ấy  tự buông bỏ chính nó (không nên chuyển nó trở thành tác ý hay hành động). Đấy là những gì mà các bạn phải luyện tập cho đến khi hoàn toàn thuần thục.
        Hãy thật tỉnh giác để ý thức sự hiểu biết trong tâm thức mình và buông bỏ “những gì hiểu biết”. Thực hiện được như thế rất hữu ích, vì đấy là cách giúp mình không rơi vào cái bẫy của chúng, tức là không bám víu vào những gì mình hiểu biết hay các quan điểm của mình (cảm nhận được một sự hiểu biết trong tâm thức cũng tương tự như dán một nhãn hiệu hay viết một dòng chữ lên trên sự cảm nhận ấy của mình, nói một cách khác là tâm thức tự động diễn đạt sự cảm nhận ấy bằng cách gán cho nó một ý nghĩa. Ý nghĩa ấy trực tiếp liên hệ với nghiệp đang vận hành bên trong tâm thức, phản ảnh tình trạng vô minh trong tâm thức mình. Bà Upasika Kee Nanayon thường gọi sự hiểu biết – nhãn hiệu hay sự diễn đạt trong tâm thức – là cách mà “tâm thức tự nó giăng ra cái bẫy để đánh lừa nó”. Vì thế phải “buông bỏ những gì hiểu biết và cả những gì mà nó hiểu biết”, đấy là ý nghĩa của câu trên đây). Nếu những gì mình biết là đúng thì cũng cứ buông bỏ chúng, nếu là sai thì cũng buông bỏ chúng. Nguời ta gọi đấy là sự buông bỏ những gì “mình biết” nhằm không gây ra một sự vướng mắc nào(không bám víu vào bất cứ gì kể cả sự hiểu biết của mình). Làm được như thế sẽ giúp cho tâm thức không nắm bắt bất cứ gì hiện ra bên trong nó. Ngay khi vừa ý thức được một sự vật (một điều) nào đó thì tức khắc các bạn phải buông bỏ nó. Phải giữ cho tâm thức luôn trống không, trống không tất cả mọi thứ tạo tác tâm thần và tư duy, trống không mọi thứ ảo giác có thể thâm nhập vào bên trong nó. Tâm thức phải tức thời nhận biết xuyên qua chúng và buông bỏ chúng, phải thật tỉnh giác và buông bỏ ngay, không nên nắm bắt bất cứ gì cả. Duy nhất chỉ có sự trống không là còn sót lại trong tâm thức mình mà thôi…  
        Dần dần từng chút một các bạn sẽ nhận thấy kết quả mang lại từ việc luyện tập và sự quán thấy của mình, giúp mình buông bỏ tất cả, buông bỏ cả ý nghĩ cho rằng “mình” là người đang đau đớn, ” mình” là người đang hấp hối. Đau đớn và hấp hối là chuyện của các cấu hợp (ngũ uẩn), giản dị chỉ có thế. Khi nào sự hiểu biết trên đây trở nên thật trong sáng và vững chắc – có nghĩa là mình có thể thốt lên: “Chuyện đó không dính líu gì đến tôi, chẳng có “cái tôi” nào trong đó cả” – thì khi đó chỉ còn lại một tâm thức trống không, hoàn toàn không có một nhãn hiệu (một dòng chữ) nào áp đặt lên nó để chỉ định nó. Đấy là bản chất của một tâm thức khi đã loại bỏ được mọi mầm mống hoang mang và lầm lẫn mà trước kia đã khiến nó tin vào hết thứ này đến thứ kia. Sở dĩ các mầm mống đó bị diệt trừ ấy là nhờ chúng ta biết quán xét chúng và buông bỏ chúng. Vậy chúng ta hãy phát huy sự tỉnh giác bên trong tâm thức và buông bỏ bất cứ gì hiện lên, và đến một lúc nào đó thì tâm thức sẽ trở nên trống không – trong sáng một cách tự nhiên, từ bên trong nó và bởi chính nó.
        Khi quay nhìn vào bên trong chính mình thì mình sẽ trông thấy tri thức hiện lên và biến mất, bởi vì bản chất của nó là như thế. Nó không thật sự hàm chứa một thực thể nào cả – đấy chỉ là những gì mà chúng ta nhận thấy khi nhìn vào các thể tính cơ bản của nó (vinnana-dhatu(vinnana-dhatu còn gọi là “thành phần tri thức”, tức là thành phần thứ 18 trong số 18 thành phần “thể-xác-tâm-thần” tạo ra các điều kiện thích nghi mang lại sự nhận thức cho một cá thể. Mưới tám thành phần này gồm có: 1-thị giác, 2-đối tượng của thị giác, 3-tai, 4-đối tượng của thính giác…, 16-thành phần tâm thần, 17-đối tượng của tâm thần, và sau hết là 18-thành phần tri thức/vinnana-dhatu). Khi nào tri thức không tham gia vào sự vận hành chung của các thành phần thể-xác-và-tâm-thần khác (tức là các cấu hợp/ngũ uẩn tạo ra một cá thể) thì nó chỉ đơn giản ý thức về chính nó – tức là thể dạng tỉnh thức, tinh khiết và đơn sơ của nó. Do đó người ta còn gọi nó là “tâm thức tinh khiết và đơn sơ” hay “phẩm tính tinh khiết và đơn sơ của tri thức”, bởi vì tự nó và bởi chính nó là như thế, và rồi nó cũng sẽ buông bỏ cả chính nó (nói một cách khác thì đấy là thể dạng “tri thức nguyên sinh” của một cá thể). Khi người ta khuyên các bạn hãy chú tâm để hiểu biết (ý thức) và buông bỏ sự hiểu biết (sự ý thức) ấy thì đấy có nghĩa là phải chú tâm để ý thức được tri thức cảm nhận mọi sự vật, và sau đó thì tự nó cũng sẽ buông bỏ cả chính nó (kể cả những gì mà nó cảm nhận được).
        Đối với “cấu hợp tri thức” (vinnana-khandha) thì đấy là một thể dạng tri thức gây ra đủ mọi thứ rắc rối (xin lưu ý thuật ngữ “cấu hợp tri thức”/vinnana-khandha khác hơn với “thành phần tri thức”/vinnana-dhatu nói đến trên đây.  Chữ dhatu/thành phần chỉ định một yếu tố mang tính cách đồng nhất và “đơn thuần” hơn, chẳng hạn như chữ này cũng được dùng để chỉ định 5 “thành phần” tạo ra thân xác một cá thể là: đất, nước, lửa, khí và không gian. Trong khi đó chữ khanda tiếng Pa-li, tiếng Phạn là skhanda, có nghĩa là một cấu hợp/uẩn. Vinnana-khandha là “cấu hợp tâm thân” hay tri thức – kinh sách gốc Hán ngữ gọi là “thức” – và cũng là cấu hợp thứ năm trong số năm thứ cấu hợp/ngũ uẩn tạo ra một cá thể. Nếu vinnana-khandha là một thể dạng cấu hợp thì đương nhiên nó phải là ô nhiễm, vô thường và khổ đau, tương tự như tất cả mọi hiện tượng cấu hợp khác). Các sự hoang mang và lẩm lẫn ngày càng chồng chất thêm bên trong thể loại tri thức này (tức là “cấu hợp tri thức” hay là “thức” theo kinh sách tiếng Hán, nói một cách nôm na là “tâm thần” hay “nội tâm” của mình) xui dục mình bám víu vào “cái tôi” của mình. Mặc dù thể loại tri thức này có khả năng buông bỏ được các sự đau đớn trên thân xác cũng như các hiện tượng khác liên quan đến thể xác và tâm thần nói chung (uẩn), nhưng lại luôn bám chặt vào cảm tính về một cái tôi. Do đó nếu tôi khuyên các bạn hãy ý thức về sự buông bỏ những gì mình ý thức được(hiểu biết được) thì đấy cũng có nghĩa là buông bỏ thể dạng tri thức này (nó chỉ là một thứ cấu hợp), và phải đẩy tối đa sự buông bỏ đó đến một mức độ mà nó không còn một dòng chữ hay một nhãn hiệu nào để dán lên chính nó. Đấy là cách khiến nó trở nên trống không. Một khi các bạn hiểu được điều này, hoặc nói một cách khác là các bạn uốn nắn được tim mình và tâm thức mình phù hợp với tầm nhìn đó, thì sẽ chẳng còn lại bất cứ một thứ gì cả. Các sự đau đớn, khổ đau, căng thẳng, cũng như các mối lo buồn sẽ không còn mang một ý nghĩa nào cả, không còn là tốt hay xấu, hoặc là bất cứ thứ gì. Tính cách nhị nguyên (tôi và kẻ khác, đối tượng và chủ thể, tốt và xấu, đúng và sai…) không còn gây ra một tác động nào đối với mình nữa. Nếu ý thức được điều đó – nhờ vào một tri thức không nắm bắt bất cứ một thứ gì – thì các bạn sẽ hoàn toàn tránh được mọi sự tạo tác tâm thần.
        Các hình thức nhị nguyên tạo dựng ra cái tốt cái xấu (sự nhị nguyên sẽ đưa đến sự phân biệt), thế nhưng chúng không hàm chứa một thực thể nào cả (các sự phân biệt không hàm chứa một giá trị tuyệt đối nào).Chúng hiện ra là như thế, chúng tan biến thì cũng chỉ là như thế, hết sức đơn giản và tự nhiên. Những gì trên đây cho chúng ta thấy tại sao các hình thức nhị nguyên lại uốn nắn sự vận hành của tâm thức theo một mô hình xoắn ốc, biến tâm thức – đúng hơn là tri thức – trở thành thành một sự xoay vần bất tận gồm các chu kỳ nối tiếp nhau. Khi nào các bạn ý thức được sự hiểu biết buông bỏ sự hiểu biết (tức buông bỏ chính nó) thì bên trong tri thức các hình thức nhị nguyên không còn mang một ý nghĩa nào nữa. Trong thể dạng đó của tri thức sẽ không còn một sự nắm bắt bất cứ một nhãn hiệu nào hay một dòng chữ nào nhằm chủ đích chỉ định tính cách tốt hay xấu, thích thú hay đau đớn, đúng hay sai, hay bất cứ thứ gì khác. Các bạn chỉ cần tiếp tục buông bỏ và buông bỏ.    
        Đối với sự hiểu biết buông bỏ những gì mà nó hiểu biết thì sẽ khó có một từ nào có thể diễn tả được điều đó, không có “cái tôi” nào để mà “hiểu biết” cả, cũng chẳng có một “cái tôi” nào để mà “trông thấy”cả. Thế nhưng đấy lại là một sự hiểu biết thật sâu sắc, đòi hỏi một sự cố gắng nào đó để có thể nhận biết được điều ấy một cách minh bạch và đúng đắn. Các bạn phải tiếp tục quan sát với tất cả sự sáng suốt, một sự sáng suốt xuyên qua sự quán thấy của chính mình. Điều này vô cùng quan trọng bởi vì đó là một thứ duy nhất có thể mang lại sự Giác Ngộ cho các bạn. Sự hiểu biết của các bạn phải tinh tế, khéo léo, phải luôn duy trì được các phẩm tính đó, nếu không thì sự hiểu biết của các bạn về bản chất đích thật của mọi sự vật – thuộc lãnh vực bên ngoài cũng như bên trong nội tâm – sẽ không hoàn toàn trong sáng. Nó sẽ bị chận lại ở các cấp bậc sơ đẳng nhất của tánh không, và tiếp tục dán một nhãn hiệu lên mọi sự vật để mà bám víu vào chúng, và sau cùng sẽ khiến cho mọi sự trở nên rắc rối thêm mà thôi. Thể loại “tánh không” này không thể mang ra so sánh với Tánh Không đích thật trên đây: có nghĩa là những gì hiểu biết tự loại bỏ chính nó ngay từ bên trong thể dạng tri thức tinh khiết và đơn sơ của chính nó. Hãy cố gắng giữ cấp bậc tri thức trên đây thật vững chắc. Nếu bất chợt các bạn dánh mất nó thì phải quay lại để tìm nó  Các bạn sẽ nhận thấy rằng khi nào không nắm bắt một nhãn hiệu hay một ý nghĩa(một dòng chữ hay sự diễn đạt) nào, thì các tư duy nói lên cái tốt hay cái xấu (sự phân biệt) cũng sẽ dừng lại ngay. Chúng sẽ tan biến hết. Đức Phật dạy chúng ta hãy nhìn vào thế giới như là một sự trống không. Quả đúng thế, đấy là cách mà chúng ta phải nhìn vào thế giới này. 
        Tánh Không hiện ra khi tâm thức không gán cho mọi sự vật một ý nghĩa nào cả, không tạo tác cũng không bám víu. Đấy là cách mà nó trở nên trống không. Khi nào phát huy được sự cảm nhận đúng đắn về thể dạng trống không của tâm thức thì các bạn sẽ không còn bị lôi cuốn (quyến rũ, thu hút) bởi bất cứ gì nữa cả. Nếu chưa tập trung được sự chú tâm đúng theo phương cách đó thì các bạn cũng chỉ sẽ thực hiện được một thứ tánh không hời hợt mà thôi, và các bạn lại tiếp tục bị xao lãng bởi hết chuyện này đến chuyện khác, khiến tánh không ấy bị xao động. Thể loại tánh không đó chỉ đơn giản là một tình trạng hoang mang tâm thần. Tâm thức các bạn luôn bị bủa vây bởi các sự hoang mang đủ loại bởi vì các bạn không phân tích được mọi sự vật ở một cấp bậc thật sâu xa. Các bạn chỉ đùa cợt với khái niệm về tánh không mà thôi. Nếu muốn đạt được các cấp bậc sâu sắc của Tánh Không thì các bạn phải nhìn vào bên trong chính mình hầu phát huy một sự chú tâm thật bền vững để quán xét các sự vật, cho đến khi nào quán thấy được minh bạch bản chất đích thật của chúng xuyên qua các hiện tượng trong thực tại đang hiện ra và biến mất trước mắt mình. Tâm thức trong thể dạng đó sẽ không còn bị lôi cuốn bởi những gì đang xảy ra, không còn dán lên cho chúng một nhãn hiệu nào, cũng không nắm bắt một ý nghĩa nào nữa.      
        Nếu quán thấy đúng đắn được thể dạng Tánh Không đó thì sẽ không còn một khó khăn nào xảy ra, không còn một nhãn hiệu nào dán lên cái đống hỗn độn của các hiện tượng thể xác và tâm thần (các cấu hợp/ngũ uẩn tạo ra một cá thể) nữa. Khi xảy đến giây phút mà tất cả những thứ ấy phải tan rã hết (chết) thì chẳng có gì phải hoảng hốt, chẳng có gì phải lo buồn, bởi vì đấy là cách mà mọi sự vật ra đi một cách tự nhiên. Chỉ vì bám víu vào chúng mà chúng ta mang lại khổ đau cho mình mà thôi (dưới một góc nhìn khác thì sự bám víu đó là những gì phản ảnh “bản năng sợ chết” của chính mình).
        Dhamma (Đạo Pháp/Giáo Huấn của Đức Phật hay Sự Thật nêu lên qua những lời thuyết giảng của Đức Phật) đang ngụ tại nơi này, ở ngay bên trong thân xác và tâm thức mình. Chỉ vì chúng ta không trông thấy được nó, hoặc có thấy thì cũng chỉ là một cách thấy sai lầm, cho nên chúng ta nắm bắt nó để mà mang lại khổ đau cho mình (tu tập không đúng với Giáo Huấn của Đức Phật cũng là một hình thức bám víu, chẳng những không ích lợi gì mà còn mang thêm khổ đau cho mình mà thôi). Nếu chúng ta nhìn vào mọi sự vật với một sự chú tâm thật cao độ và một sự suy xét minh bạch thì không có gì có thể khiến chúng ta phải khổ đau cả. Tại sao lại phải sợ hãi trước sự đau đớn và cái chết? Và nếu cứ sợ hãi thì có lợi lộc gì đâu? Các hiện tượng thân xác và tâm thần bắt buộc phải tuân theo bản chất của chúng. Thế nhưng tại sao chúng ta lại phải lăn xả vào đấy để mà nắm bắt chúng và cho rằng các sự đau đớn và khổ đau của chúng là của mình? Nếu hiểu rằng sự nắm bắt đó sẽ khiến chúng ta khổ đau và tiếp tục khổ đau, qua từng hơi thở một, thì những gì mà chúng ta nên làm là buông bỏ tất cả, và chúng ta sẽ nhận thấy rằng sự giải thoát khỏi khổ đau nào có xa xôi gì đâu, mà nằm ngay trước mặt mình.   
        Vậy thì các bạn hãy cố gắng nhìn vào bên trong chính mình theo cách mà tôi đã giải thích trên đây hầu luôn giữ được sự tỉnh giác cho tâm thức mình, nhưng tuyệt nhiên không nên ghép thêm cho nó chữ “tâm thức” hay bất cứ thứ gì khác (bên trong sự trống không tuyệt đối tâm thức cũng sẽ tan biến. Tâm thức dưới thể dạng cấu hợp – vinnana-khandha –  chỉ là một phương tiện chuyển tải Tánh Không – cũng như tất cả tư duy và các xúc cảm bấn loạn khác. Sự thực hiện Tánh Không sẽ tự động loại bỏ tất cả, trong đó kể cả chính nó với tư cách là một “chủ thể” nhận biết các “đối tượng”. Do đó không nên nghĩ rằng “tâm thức” mình đạt được “Tánh Không” mà nên để cho Tánh Không tỏa rộng bao trùm nó, khiến nó lu mờ, thu nhỏ và tự tan biến bên trong Tánh Không). Cứ để cho mọi sự vật được là như thế, đúng với chúng là như thế, tự chúng là như thế và bởi vì chúng cũng chỉ là như thế: tinh khiết và đơn sơ. Chỉ cần làm được như vậy là cũng đủ. Các bạn không cần tìm hiểu ý nghĩa hay khám phá ra bất cứ một nhãn hiệu nào để dán lên bất cứ thứ gì. Đấy chính là sự chấm dứt của khổ đau. Khi mọi sự tan biến vĩnh viễn thì cũng có nghĩa là chúng tan biến ngay từ cấp bậc bản thể (thể tính) cơ bản nhất của tri thức (elemental property of consciousness) một khi nó đã vượt thoát được mọi sự bấn loạn mang mầm mống đưa đến sự tái sinh. Đấy cũng là sự chấm dứt của tất cả, không còn sinh, tử, hay bất cứ gì khác (thực hiện được sự đình chỉ tuyệt đối tức là Niết-bàn ngay trong giây phút hiện tại này).   
        Thiền định là một thứ gì đó mà mình phải tự luyện tập cho mình (chư Phật và tất cả mọi người khác đều có thể giúp mình đủ mọi mặt, thế nhưng sự sáng suốt thì chỉ có mình mới mang lại được cho mình mà thôi). Một sự hiểu biết minh bạch và đúng đắn về mọi sự vật nhờ vào sự chú tâm và quán xét của mình chính là khí cụ giúp mình hành thiền. Nếu tâm thức được luyện tập và trở nên sắc bén nhờ vào sự chú tâm và quán xét thì chính đấy cũng là một cách giúp nó quán xét lấy chính nó, và nhờ đó tất cả các sự bấn loạn (kilesa) chẳng hạn như các thứ ô nhiễm, nắm bắt và bám víu, dần dần sẽ bị nhổ bỏ và quét sạch. Qua những gì từng luyện tập chẳng lẽ các bạn không nhận thấy mình đã đạt được một cấp bậc giải thoát đáng kể hay sao? (vậy người đọc cũng nên tự hỏi sau khi đọc đến đây thì mình có đạt được một chút giác ngộ nào hay không, hay đã quên những gì mà mình vừa đọc?). Tâm thức không phải lo lắng về một thứ gì cả, không cần phải tham gia vào bất cứ việc gì. Hãy buông bỏ tất cả những gì bên ngoài và cứ tiếp tục buông bỏ như thế cho đến khi nào tâm thức tự buông bỏ chính nó. Khi nào thực hiện được như thế thì không thể nào lại không trông thấy giá trị vô biên của Dhamma (Đạo Pháp hay Giáo Huấn hay “Sự Thật” nêu lên trong các lời giảng dạy của Đức Phật).  
        Tôi cầu mong các bạn luôn loại bỏ được khỏi tâm thức mình mọi sự bám víu và cảm tính về “cái tôi”, hầu giúp tâm thức các bạn trở nên trong sáng hơn để nhìn Thấy Dhamma. Cầu mong sao các bạn thực hiện được điều đó trong từng khoảnh khắc một và bất cứ lúc nào trong cuộc sống của các bạn. Tất cả chỉ là như thế và cũng chỉ có thế.
Phần II
        Đạt được một sự hiểu biết căn bản về Tánh Không thật hết sức hữu ích để giúp mình nghe giảng Dhamma(Đạo Pháp) dễ dàng hơn. Điều này cũng tương tự như được uống một bát thuốc bổ. Mỗi khi đau ốm thì quả hết sức khó tránh khỏi các sự đau đớn làm cho mình xao động, thế nhưng nếu làm ngơ không chú ý đến chúng thì chúng cũng chỉ gây ra khó khăn cho thân xác, tâm thức không liên hệ gì với những thứ ấy. Trong lúc nghe giảng các bạn nên ý thức về điều đó: tâm thức phải buông bỏ mọi sự đau đớn thì mới nghe giảng được. Cứ phó mặc sự đau đớn cho thân xác thì tâm thức sẽ trống không.   
        Khi nào tâm thức đã quán thấy được một cách chân thật rằng tất cả những gì cấu hợp đều là vô thường thì tất nó sẽ buông bỏ mọi sự bám víu (thật ra khái niệm về vô thường là một trong những khái niệm dễ hiểu nhất trong giáo lý Phật giáo. Thí dụ nhìn vào chính mình thì sẽ nhận thấy ngay mình là một sự cấu hợp, gồm đầu mình, chân tay, ruột gan, máu mủ, tâm thần với đủ mọi thứ xúc cảm: yêu thương, ghét bỏ, sợ hãi, tức giận, bật cười một mình hay đau buồn và nước mắt ràn rụa…, cái tổng thể phức tạp ấy là một thể dạng “cấu hợp”, do đó nó sẽ già, ốm đau và chết: đấy là bản chất vô thường của một cá thể con người, vậy không nên suốt ngày lo lắng cho nó. Chén đĩa trong bếp làm bằng đất sét, tráng men, vẽ hoa, được nung cho cứng là những thứ cấu hợp, sớm muộn chúng cũng sẽ nứt rạn, sứt mẻ hay vỡ tan, vì thế nếu con cái có lỡ tay đánh vỡ thì không nên chửi mắng hay nặng tay với chúng. Khi nào hiểu thật sâu xa rằng tất cả những gì chung quanh mình, trên thân xác mình và trong tâm thức mình đều là những thứ cấu hợp, có nghĩa là vô thường, không có một ngoại lệ nào cả, thì chúng ta sẽ tìm thấy sự nhẹ nhõm thật dễ dàng. Trái lại nếu bám víu vào những thứ trường tồn, bất biến và toàn năng thì chúng ta đều biết những gì đang xảy ra trên thế giới này!). Khó khăn nếu có là vì chúng ta không thật sự nhận biết được điều ấy hoặc không chịu suy nghĩ sâu xa. Một khi nhìn thấy được điều đó thì tức khắc tâm thức sẽ bừng sáng lên. Một sự hiểu biết minh bạch sẽ khiến cho tâm thức rạng rỡ. Vì thế các bạn phải luôn giữ sự chú tâm thật vững chắc. Dù không có nhiều hiểu biết trong lãnh vực này đi nữa thì cũng chỉ cần giữ tâm thức trong thể dạng thăng bằng ở cấp bậc sơ đẳng nhất của sự trung hòa và Tánh Không cũng được. Làm được như thế thì cũng đủ giúp mình không quá lo sợ những sự đau đớn trên thân xác và không quá quan tâm đến chúng. 
        Do đó các bạn chỉ nên duy trì việc nhận biết về sự đau đớn ở thể dạng khi nó vừa mới chớm hiện lên đơn giản như là một sự cảm nhận của thân xác. Sự đau đớn ấy là của thân xác, không nên để tâm thức phải đau đớn cùng với nó! Nếu cứ để tâm thức khổ đau vì những sự đau đớn của thân xác thì các bạn sẽ khiến cho tình trạng trầm trọng thêm mà thôi. Vì thế trước hết các bạn phải bảo vệ tâm thức, giúp nó biết buông bỏ mọi sự vật, và sau đó thì quay nhìn vào bên trong chính mình, hướng vào nơi sâu kín nhất của tri thức mình và an trú nơi đó. Các bạn không bắt buộc phải dính líu vào các thứ đau đớn bên ngoài. Kể cả trường hợp các bạn cắn răng chịu đựng thì biết đâu các bạn cũng sẽ không kham nổi. Tốt hơn hết là nên an trú trong thể dạng sâu kín nhất của tâm thức bên trong chính mình, đấy là cách giúp mình gạt bỏ tất cả mọi thứ sang một bên
        Sau đó nếu cơn đau giảm xuống thì hãy cố gắng quan sát nó. Giữ tâm thức trong trạng thái bình thường, trung hoà và bình thản, bằng cách phát động Tánh Không bên trong nó. Tâm thức tiếp tục quan sát cơn đau trong lúc nó giảm dần và tan biến. Ngược lại nếu cơn đau gia tăng và trở nên gay gắt thì hãy nhìn vào bên trong chính mình, bởi vì nếu chỉ biết cắn răng chịu đựng mà không đủ sức thì sự mong muốn (desire) sẽ chen vào, mong muốn tống khứ được cơn đau, hoặc mong muốn thay thế nó bằng sự an lành. Thế nhưng thật ra thì sự mong muốn đó chỉ là cách khiến cho mọi sự càng trở nên trầm trọng thêm, mang lại một sự bấn loạn khủng khiếp trong tâm thức mình.  
        Vậy đối với các khó khăn cấp bách thì phải đối phó như thế nào. Nếu sự đau đớn xảy đến bất thần và quá gay gắt thì các bạn phải tức khắc quay nhìn vào bên trong chính mình và tập trung sự chú tâm hướng thẳng vào tâm thức. Các bạn không nên lo lắng cho thân xác và các cơn đau đớn của nó. Mặc kệ chúng, hãy chú tâm thật mạnh vào nơi sâu kín nhất của tri thức. Tập trung tất cả sự chú tâm của mình vào đó cho đến khi nào quán thấy được thể dạng tinh khiết của tâm thức không tham dự vào sự đau đớn của thân xác, thì khi đó các bạn sẽ dừng lại ở thể dạng tâm thức thật trong sáng và bền vững đó. Khi sự chú tâm đã hướng được vào bên trong một cách vững chắc và trong sáng thì dù cho sự đau đớn trên thân xác có như thế nào thì đấy cũng chỉ là chuyện liên quan đến các hiện tượng tâm thần và thể xác, tâm thức không dính líu gì đến những thứ ấy. Nó đứng ra ngoài và buông bỏ tất cả (các hiện tượng tâm thần và thể xác ở đây có thể hiểu là các cấu hợp/ngũ uẩn tạo ra một cá thể, thể dạng tinh khiết của tâm thức vượt ra ngoài và lên trên các cấu hợp ấy).
        Khi nào các bạn đã thuần thục với phép luyện tập này thì khả năng hướng sự chú tâm vào bên trong chính mình mà mình đã luyện tập được sẽ giúp mình rất nhiều, bởi vì những gì quan trọng nhất trong cuộc sống không thuộc vào các bối cảnh bên ngoài, mà hoàn toàn nằm sâu bên trong tâm thức. Nếu hiểu được điều đó một cách đúng đắn thì chúng ta sẽ không còn hướng ra bên ngoài để nắm bắt cái này hay cái kia nữa. Chúng ta sẽ không còn nắm bắt bất cứ thứ gì nữa, bởi vì khi nào còn nắm bắt thì chúng ta sẽ còn tạo ra những khổ đau vô ích. Sự an vui của tâm thức cũng đơn giản chỉ là tình trạng mà nó không còn nắm bắt bất cứ gì cả, và cũng không thèm khát/mong muốn một thứ gì cả. Trong tình trạng đó tất cả những sự bất toại nguyện, tất cả mọi thứ khổ đau đều biến mất: nơi đó nằm bên trong tâm thức mình.  
        Trái lại, nếu các bạn không thật sự hiểu được mọi sự vật là gì thì tâm thức sẽ không sao buông bỏ chúng được. Nó sẽ hướng vào các sự vật bên ngoài để mà bám víu vào chúng với tất cả sức lực của nó, chẳng qua là vì nó tìm thấy hương vị trong những thứ ấy. Sớm muộn chắc chắn chúng sẽ mang lại khổ đau và bất toại nguyện, thế nhưng tiếc thay tâm thức đã bị mù quáng bởi những gì đã quyến rũ nó. 
        Chúng ta phải tập trung sự chú tâm để suy tư và quan sát hầu trông thấy những sự bấn loạn trong tâm thức, cũng như những sự hiểu biết và các quan điểm sai lầm che khuất nó và không cho chúng ta trông thấy được bản chất trống không và vắng lặng của chính nó. Hãy tập trung thật mạnh để quán xét các quan điểm của mình hầu nhận thấy chúng mang lại cho mình những sự bám víu phức tạp đến độ nào, các sự bám víu đó sẽ vùi lấp tâm thức khiến nó rơi vào một tình trạng bế tắc thật khủng khiếp. Các bạn trông thấy đó, các hiện tượng tâm thần – giác cảm, sự cảm nhận, sự hình thành của tư duy (tức năm thứ cấu hợp/ngũ uẩn) – chi phối tâm thức, ảnh hưởng đến cả các thể tính cơ bản của tri thức làm cho nó bị méo mó hẳn đi. 
        Những gì trên đây cho thấy thật hết sức quan trọng là phải khám phá ra cái gì là thể dạng hiểu biết buông bỏ được những gì mà nó hiểu biết – nói một cách khác là thể dạng hiểu biết gì nhận biết được các thể tính tinh khiết và đơn sơ của tri thức trước khi các hiện tượng tâm thần thâm nhập vào nó và chi phối nó, hay trước khi nó thoát ra khỏi chính nó để chi phối các hiện tượng tâm thần (đây là một trong các câu khá cô đọng và khúc triết nhất trong bài giảng của bà Upasika Kee Nanayon, do đó cũng xin mạn phép giải thích thêm như sau: “Tri thức nguyên sinh” là một thể dạng tâm thần trong sáng, tinh khiết, tĩnh lặng – có thể hiểu như là thăng bằng và” bất động” – vậy cái gì cảm nhận được các thể tính ấy của nó ngoài chính nó? Nếu muốn cảm nhận được chính nó trong thể dạng nguyên sinh ấy của chính nó thì nó phải buông bỏ “khả năng” nhận biết của nó và cả những gì mà khả năng ấy đã nhận biết được. Mặt khác thì nó cũng có thể thoát ra khỏi nó để ảnh hưởng đến các hiện tượng tâm thần bên ngoài nó – chẳng hạn như các sự hiểu biết và nhận thức – và đấy cũng là cách làm cho nó bị ô nhiễm và méo mó. Buông bỏ khả năng hiểu biết và cả những gì hiểu biết là cách giúp nó trở về với thể dạng nguyên sinh của chính nó). Đấy chính là điểm quan trọng cần phải chú ý – nhất là đối với sự tạo tác tư duy đưa đến các tác động ảnh hưởng đến tri thức (làm ô nhiễm và méo mó tri thức). Các tư duy đó phát sinh từ vô minh, có đúng thế hay không (vô minh đưa đến tư duy và tác ý)? Chỉ vì “thiếu hiểu biết” hay “hiểu biết sai lầm” mà chúng ta đã xác định lệch lạc mọi sự vật.
        Tôi mong rằng các bạn hãy cố gắng tìm hiểu về tình trạng vô minh đó, tức là sự thiếu-hiểu-biết đó. Khi nào ý thức được các đặc tính của sự thiếu hiểu biết ấy thì sẽ giúp các bạn nhận biết được các đặc tính của các hiện tượng tạo tác ra tư duy (các sự tạo tác tâm thần), để hiểu rằng chúng phát sinh và bị chi phối như thế nào bởi các nguyên nhân tạo ra chúng, và sau đó là để buông bỏ chúng. Điều này đòi hỏi các bạn phải có một sự nhận định tinh tế và sâu sắc, bởi vì điều này vô cùng tinh vi và sâu kín. Tuy nhiên và dầu sao đi nữa thì sự tỉnh giác và khả năng quán xét mà các bạn đạt được cho đến đây cũng thừa đủ giúp mình tiếp cận với vấn đề này. Nếu không thì cũng chẳng biết là có một phương pháp nào khác hơn có thể làm cho khổ đau phải chấm dứt, nói cách khác là giải thoát mình ra khỏi nó.     
        Các bạn có thể tiếp cận những điều trên đây qua một góc nhìn khác hơn: chẳng hạn như duy nhất chỉ tập trung vào một thể dạng tâm thức thường xuyên ở trong tình trạng trống không. Nếu có những mối quan tâm nào hiện lên thì chỉ cần ý thức về các đặc tính (như vô thường, bất toại nguyện, vô thực thể…) của chúng xuyên qua các sự cảm nhận đơn thuần, chẳng hạn như khi hình tướng tiếp xúc với mắt, âm thanh với tai, v.v., trước khi các sự diễn đạt như “thích thú” hay “khó chịu” có thể xảy ra. Nếu xem chúng chỉ là những sự cảm nhận đơn thuần thì chúng sẽ tự động tan biến sau đó, đấy là cách không gây ra khổ đau cho mình (nếu gán cho các sự cảm nhận một ý nghĩa nào đó, nói một cách khác là dán lên cho chúng một nhãn hiệu, thì tức khắc sự bám víu sẽ xảy ra và mang lại khổ đau cho mình. Cách dừng lại ở cấp bậc cảm nhận mang tính cách “cụ thể” hơn so với phương pháp buông bỏ hầu tạo ra thể dạng trống không trong tâm thức làm hiện lên thể dạng tri thức nguyên sinh tinh khiết và đơn sơ trên đây, do đó cũng tương đối dễ thực hiện hơn. Dầu sao thể dạng dừng lại ở cấp bậc cảm nhận và không diễn đạt bất cứ gì cũng không sâu xa và tuyệt đối bằng thể dạng trống không của tâm thức nhờ vào sự buông bỏ)
        Các bạn phải dồn tất cả sự chú tâm vào đúng lúc khi các sự tiếp xúc vừa mới xảy ra, chẳng hạn như khi hình tướng bắt đầu tiếp xúc với mắt. Nếu mình không chú ý đến các sự vật hiện lên qua sự tiếp xúc ấy thì chúng cũng sẽ không tạo ra cho mình các cảm tính như “tôi thích” hay “tôi không thích”. Thế nhưng nếu các cảm nhận về các hình tướng, âm thanh, mùi, vị, hay các cảm giác đụng chạm khác gây ra một sự chú ý nào đó đối với mình, hoặc mình gán cho chúng một ý nghĩa nào đó, thì tức khắc sự bám víu (thích thú hay ghét bỏ) sẽ hiện ra.
        Nếu  các bạn nhìn vào mọi sự vật theo cách đó thì các bạn sẽ nhận thấy sự bám víu hết sức tinh tế, bởi vì chỉ cần gán ý nghĩa cho một sự vật nào đó thì ngay bên trong hành động đó cũng đã tàng ẩn một sự bám víu thật kín đáo. Nếu không suy xét một cách cẩn thận thì các bạn không sao nhận thấy được sự bám víu ấy; thế nhưng thật ra luôn có một sự bám víu, chỉ vì nó quá sức tinh tế nên khó nhận biết thế thôi. Khi nêu lên một ý nghĩa nào đó thì luôn có một sự bám víu đi kèm với nó. Nếu muốn nhận thấy điều này thì phải thật chú tâm và cảnh giác chẳng qua là vì chúng ta xem các sự tiếp xúc ở các cấp bậc mắt, tai… là những gì hoàn toàn bình thường, thế nhưng thật ra thì có rất nhiều chuyện xảy ra cùng một lúc với các sự tiếp xúc ấy – tương tự như một trò ảo thuật vậy (thí dụ chúng ta thấy một con “gà trống” và nói lên đây là một con “gà trống”, thì sự bám víu là ở chỗ nào? Đấy là một con gà biết gáy ó o, không phải là một con gà mái. Nếu nói lên là một “con gà”, tức không trống cũng không mái, thế nhưng vẫn có sự bám víu; tức có nghĩa đấy là một “con gà”  không phải là một “con vịt”. Sự diễn đạt là một nhãn hiệu, một dòng chữ mà mình áp đặt cho một cảm nhận của tâm thức, nhãn hiệu hay dòng chữ đó phát sinh từ sự hiểu biết quy ước và vô minh dưới sự chi phối của nghiệp trong tâm thức mình. Khi nào có cảm nhận nhưng không có diễn đạt thì đấy là một cách mang lại sự trống không cho tâm thức ở một cấp bậc nào đó. Ở một cấp bậc sâu xa hơn nữa là tâm thức phải loại bỏ cả khả năng diễn đạt dưới tác động của nghiệp và xuyên qua sự hiểu biết mang tính cách quy ước của nó. Ở một cấp bậc sâu xa hơn là tâm thức chính nó cũng phải tự loại bỏ nó tức là loại bỏ thể dạng cấu hợp của nó, hầu dòng tri thức nguyên sinh, đơn sơ và tinh khiết có thể hiện lên) – điều này cho thấy chúng ta không ý thức được các đặc tính về những gì mà mình ý thức được qua từng cảm nhận riêng rẽ. Do đó chúng ta phải thật cảnh giác thì mới có thể nhận thấy sự kiện này (thí dụ trông thấy một người nào đó thì không phải chỉ trông thấy người ấy mà cả một lô các sự diễn đạt và xúc cảm cũng đồng loạt phát sinh đi kèm với sự trông thấy ấy, chẳng hạn như người ấy: mập, ốm, trẻ, già, đàn bà, đàn ông, xinh đẹp, xấu xí, dễ thương, đáng ghét, v.v. Chỉ cần trông thấy một cá thể con người thì tức thời một lô các sự diễn đạt trên đây sẽ dồn dập hiện lên ôm chầm lấy sự trông thấy ấy của mình. Tóm lại nếu muốn đi đến sự “không diễn đạt, không dán một nhãn hiệu, không viết lên một dòng chữ nào trong tâm thức mình thì không phải là dễ, do đó con đường luyện tập thiền định rất cam go, luôn đòi hỏi sự kiên nhẫn. Thế nhưng nếu kiên trì thì dần dần từng bước một, chúng ta cũng sẽ loại bỏ được các sự diễn đạt và xúc cảm bấn loạn đi kèm với những sự cảm nhận của mình qua tâm thức và ngũ giác, và trong từng ngày một, trong từng khoảnh khắc một, chúng ta cũng sẽ cảm thấy ít khổ đau hơn một chút, nhẹ nhàng hơn một chút). Nếu không thực hiện được cấp bậc tỉnh thức đó thì bất cứ gì hiện ra với mình luôn liên hệ với một sự bám víu. Các thứ ấy sẽ truyền vào tâm thức mình các thông điệp đưa đến các sự diễn đạt và biến chế đủ loại, mang lại mọi thứ khó khăn cho tâm thức, khiến nó rơi vào một tình trạng hoang mang cực độ (tức là tạo ra tình trạng “vô minh” cho tâm thức).
         Nếu muốn cho tầm nhìn của mình chỉ duy nhất hướng vào bên trong chính mình thì các bạn phải thật cảnh giác, bởi vì bên trong nội tâm mình các sự vật rất tinh tế, bén nhạy và khó nắm bắt. Có những lúc tâm thức có vẻ như trống không và trung hòa (bình thản, ít xao động) thì đấy là những lúc thuận tiện nhất giúp các bạn có thể quan sát nó chính xác hơn và cũng chủ động nó dễ dàng hơn, hầu nhận biết được các cảm nhận phát sinh từ các sự tiếp xúc giác cảm (xin nhắc lại là theo Phật giáo thì tâm thức cũng là một giác quan tương tự như năm giác quan khác trên cơ thể, và đối tượng của giác quan tâm thức là tư duy, xúc cảm, sự tưởng tượng, v.v.). Nếu các sự tiếp xúc ấy giữ nguyên được tính cách tinh khiết và đơn sơ của chúng (không diễn đạt gì cả) thì chúng sẽ biến mất nhanh chóng và tâm thức sẽ giữ được thể dạng trống không – trung hòa và trống vắng – của nó. Khi nào thực hiện được như thế thì các bạn sẽ nhận biết được thể dạng tâm thức mình sẽ trở nên như thế nào khi mà nó không còn bị chi phối bởi tác động của các thứ ô nhiễm, bám víu và nắm bắt. Các bạn có thể căn cứ vào thể dạng trống không đó như là một mẫu mực giúp mình so sánh với các thể dạng bấn loạn khác, và điều đó sẽ mang lại cho mình một sự toại nguyện sâu xa.   
        Sau cùng sự luyện tập sẽ giúp các bạn nhận biết được Tánh Không của tất cả mọi hình thức tiếp xúc giác cảm, đúng theo lời Phật dạy là hãy nhìn vào thế giới như là một sự trống không. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải nhìn vào các giác cảm của mình xuyên qua các thể dạng mộc mạc và đơn sơ nhất của chúng, tức có nghĩa chúng chỉ đơn giản là các hiện tượng hiện lên và tan biến. Vì thế khi nào tri thức chỉ đơn giản tiếp nhận các giác cảm mang lại từ các sự tiếp xúc của các giác quan, nhưng không ghép thêm cho chúng bất cứ thứ gì, thì chúng ta sẽ quán thấy được bản chất đích thật của chúng. Sau khi đã thực hiện được điều đó thì giai đoạn kế tiếp trong quá trình luyện tập của mình sẽ không còn gặp phải một khó khăn nào nữa, bởi vì mình đã thực hiện được thể dạng trung hòa (thăng bằng, không bị khích động bởi các sự tiếp xúc giác cảm) trong giai đoạn khi mới khởi đầu luyện tập. Việc tiếp nhận các sự tiếp xúc giác cảm không còn là một sự khó khăn nữa, tâm thức không còn nắm bắt các sự vật, không còn cảm nhận các cảm tính mê thích hay ghét bỏ nữa. Tâm thức sẽ trở nên an bình, hoàn toàn ý thức được tất cả những gì chung quanh nó vào bất cứ lúc nào. Sau khi đã đạt được cấp bậc này thì các bạn sẽ nhận thấy một sự lợi ích vô cùng to lớn một khi mình không còn làm cho các sự vật trở nên rắc rối, không để cho chúng tạo ra các thứ khó khăn dưới sự chi phối của các thứ ô nhiễm, nắm bắt và bám víu (kilesa). Chỉ cần thực hiện được như thế cũng đủ để giải thoát mình khỏi rất nhiều phiền toái.
        Tiếp theo đó khi đã phát huy được một tầm nhìn sâu sắc hơn, giúp mình nhận thấy được bản chất của toàn thể mọi hiện tượng xuyên qua các sự tiếp xúc giác cảm của mình, thì các bạn cũng sẽ nhận thấy chúng nhất thiết chỉ là các giác cảm đơn thuần, tuyệt nhiên không hàm chứa bất cứ gì đáng để cho chúng ta bám víu. Dù cho thế giới có ngập tràn đủ mọi thứ chuyện, thế nhưng nếu chúng ta nhìn qua đôi mắt của sự chú tâm để mà suy xét thì nhất định chúng ta cũng sẽ thấy tất cả đều là Tánh Không. Đôi mắt trông thấy vô số hình tướng, đôi tai nghe thấy vô số âm thanh, thế nhưng tâm thức không hề gán cho chúng một ý nghĩa nào cả một khi mà nó đã nhận thấy mọi sự vật – tự nơi chúng và bởi chính chúng – không hề hàm chứa một mảy may ý nghĩa nào.     
        Duy nhất chỉ có một điều đáng quan tâm: ấy là tâm thức. Tất cả mọi vấn đề đều phát sinh từ tâm thức (xin mạn phép nhắc lại câu đầu tiên trong kinh Dhammapada: “Tâm thức làm phát sinh ra tất cả mọi hiện tượng”), chúng thoát ra bên ngoài để gán cho mọi sự vật một ý nghĩa, và tức thời tạo ra sự bám víu (thích thú, ghét bỏ…, đưa đến các xúc cảm bấn loạn) mang lại mọi sự căng thẳng và khổ đau. Do đó các bạn phải quán xét thật cẩn thận mọi sự vật cho đến khi nào trông thấy được bản thể sâu kín nhất của chúng – qua tất cả mọi khía cạnh, từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới – xuyên qua cả các đặc tính vô thường, khổ đau và vô thực thể của chúng. Hãy nhìn mọi sự vật đúng với chúng là như thế, bởi vì chúng là như thế, tự chúng là như thế, phù hợp với bản chất đích thật của chúng, tức là trước khi chúng ta gán cho chúng một ý nghĩa nào đó để mà bám víu vào chúng. Nếu làm được như thế thì các bạn sẽ không còn gặp phải khó khăn nào xảy đến với mình nữa. Tâm thức sẽ tự nó trở nên trống không, trong sáng và rạng ngời, chẳng cần phải làm gì thêm nữa cả.   
               Tóm lại, tâm thức thường bị những con vi khuẩn vô minh hoặc các thứ bám víu thâm nhập mang lại đủ mọi thứ khó khăn, do đó chúng ta không được phép chểnh mảng. Trước hết các bạn phải quan sát tất cả mọi sự vật xảy đến với mình và theo dõi xem sự bám víu vào những thứ ấy hiện ra như thế nào qua các sự tiếp xúc giác cảm (xin nhắc lại “bám víu” ở đây có nghĩa rất rộng. Có những sự “bám víu” dễ nhận thấy như các sự ham muốn, ghét bỏ hay bất cứ một xúc cảm bấn loạn nào, nhưng cũng có thể rất kín đáo, chẳng hạn như thí dụ về chuyện con gà trên đây: trông thấy con gà bèn thốt lên “con gà!!” cũng đã là một sự bám víu). Thí dụ, khi có một cảm nhận đau đớn xảy ra, nếu mình không dán lên cho nó một nhãn hiệu mang ý nghĩa đây là sự đau đớn “của mình”, thì sự bám víu sẽ không tham gia quá đáng vào sự nhận biết ấy (nếu hiểu rằng sự đau đớn là của thân xác, không phải của mình, thì dường như sự đau đớn cũng bớt đi một chút!). Thế nhưng nếu mình gán cho nó cái ý nghĩa là “của mình”, thì tức khắc sẽ phát sinh sự mong muốn loại bỏ sự đau đớn ấy hoặc tìm cách bù đắp nó bằng một sự thích thú. 
        Sự thèm khát (desire/mong muốn,bám víu) không bao giờ mang lại những gì đúng thật, hoặc phù hợp với sự mong muốn của mình. Sự thích thú tạo ra từ thèm khát không trường tồn. Chúng thu hút mình nhưng sẽ biến đổi ngay sau đó để trở thành một thứ gì khác hơn (sự bất toại nguyện). Sự đau đớn đánh lừa mình và sẽ chuyển sang một hình thức khác. Các sự biến đổi đó dồn dập tiếp nối nhau, chồng chất bên trong tâm thức và trở nên vô cùng phức tạp, tạo ra một tấm màn vô minh bao phủ tâm thức. Đó là cách mà tâm thức bị nhào nặn bởi đủ mọi thứ tác động, khiến nó rơi vào một tình trạng hoang mang, u mê, mất hết định hướng, lúc nào cũng nóng bỏng như một đống lửa than.
        Đủ mọi thứ chuyện được ủ kín bên dưới lớp tro của đống than đang âm ỉ trong tâm thức. Chính vì thế nên nguyên tắc “cái gì hiểu biết (ý thức) buông bỏ những gì mà nó hiểu biết (ý thức)” sẽ là một lợi khí vô song. Bất cứ gì xảy đến với mình thì lợi khí đó cũng đều giúp mình vượt thoát được. Nó giải quyết được tất cả. Nếu đánh mất nó thì phải tìm cách quay lại để tìm nó. Các bạn tất sẽ tự nhận thấy lợi khí đó hiệu nghiệm vô cùng trong việc bảo vệ và mang lại cho tâm thức mình sự trống không và thanh thản.    
        Có thể là các bạn cũng chỉ có thể khám phá được những sự hiểu biết trên đây từng tí một, qua những lúc mà tâm thức các bạn không bị xâm chiếm bởi quá nhiều tư duy, và giữ được trạng thái “bình thường”, tức trống không và an bình (không nghĩ ngợi quá nhiều, không bị xao động). Trong những lúc ấy các bạn nên quán xét tâm thức mình thật cẩn thận, không nên phó mặc nó trong tình trạng thờ ơ như thế, nếu không thì nó có thể sẽ đánh mất sự thăng bằng ấy của nó. Nếu các bạn rơi vào tình trạng dửng dưng thiếu tỉnh thức đó thì mỗi khi có bất cứ một sự tiếp xúc giác cảm nào bất chợt xảy ra thì không sao tránh khỏi đưa đến sự nắm bắt và bám víu. Các bạn phải chú tâm quan sát các sự biến đổi và theo dõi phản ứng của tâm thức trong từng khoảnh khắc một. Mỗi khi sự chú tâm suy giảm thì tức khắc phải tìm cách tái lập sự chú tâm “bình thường” trước đó. Không sao tránh khỏi thỉnh thoảng sự chú tâm giảm xuống, chuyện này xảy ra đối với tất cả mọi người, bởi vì vô minh – độc tố mạnh nhất trong số các độc tố tâm thần – vẫn còn nguyên trong tâm thức mình.   
        Chính vì thế nên chúng ta phải cố gắng phát huy sự chú tâm, khả năng phân tích và sự tỉnh giác, giúp chúng ngày càng trở nên sáng suốt và minh mẫn hơn. Phải liên tục luyện tập tâm thức già dặn hơn về các khả năng chú tâm và quán xét. Khi nào tâm thức đủ cứng cỏi mang lại một sự hiểu biết thật tinh tế về mọi sự vật thì các bạn cũng sẽ loại bỏ được các yếu tố bấn loạn trong tâm thức đúng vào khoảnh khắc mà chúng vừa mới khởi sự hiện lên. Ngay vào lúc vừa chớm cảm nhận được một sự thu hút hay ghét bỏ nào thì tức khắc các bạn sẽ có thể vuợt lên trên chúng, không cần phải chờ đến lúc chúng tự tan biến. Điều này sẽ giúp cho mọi sự được dễ dàng hơn (so với những lúc khi sự nắm bắt và bám víu xảy ra rồi mới tìm cách loại bỏ chúng). Trái lại nếu cứ để chúng tiếp tục diễn tiến thì chúng sẽ gây ra các các tác động ảnh hưởng đến tâm thức khiến nó bị khích động, trở nên ô nhiễm và hoang mang, có thể đưa đến ngôn từ và hành động. Tình trạng đó sẽ khiến các bạn rơi vào một thể dạng bấn loạn tâm thần khủng khiếp, tương tự như rơi vào địa ngục ngay trong kiếp sống này.
        Việc luyện tập Dhamma (Đạo Pháp) cần đến sự khéo léo và và thận trọng bên trong tâm thức. Các yếu tố bấn loạn (kilesa) lúc nào cũng sẵn sàng tâng bốc mình, tìm đủ mọi cách khiến mình phải chiều theo ý chúng. Nếu không cảnh giác và thận trọng, không canh chừng tâm thức cẩn thận thì các yếu tố bấn loạn sẽ điều khiển mình – chúng có đủ mọi mánh khóe. Ngược lại nếu giữ tâm thức thật cảnh giác thì chúng sẽ sợ mình, rất e ngại trước sự chú tâm và quán xét của mình. Chúng sẽ bị tâm thức tỉnh giác của mình đánh bại.
        Các bạn thấy đó, với một tâm thức trống không, tỉnh thức, không bám víu thì các yếu tố bấn loạn sẽ thu mình bé xíu. Thế nhưng nếu sự chú tâm vừa mới giảm xuống một tí thì tức khắc các yếu tố bấn loạn(kilesa/phiền não) sẽ bùng lên ngay. Nếu các bạn đủ sức nhận biết được chúng ngay vào lúc chúng vừa chớm hiện lên thì chúng sẽ tan biến tức khắc. Khả năng nhận biết này rất hữu ích, bởi vì nếu cứ để cho các yếu tố bấn loạn tha hồ khuấy động mang lại mọi thứ khó khăn cho mình thì khi đó sẽ rất khó loại bỏ chúng. Vậy phải kiên trì và không nên bỏ cuộc.   
        Dầu bất cứ gì xảy đến với mình thì trước hết phải chấp nhận và chịu đựng nó – thế nhưng không phải chỉ biết đơn giản chịu đựng mà phải quán xét chúng, xem chúng là gì, biến đổi ra sao và tan biến như thế nào. Sở dĩ chúng ta phải chấp nhận và chịu đựng là để trông thấy sự lừa lọc của chúng, có nghĩa là theo dõi xem chúng hiện ra như thế nào, tồn tại và tự chúng tan biến ra sao (trông thấy được bản chất vô thường của chúng để không bám víu vào chúng và không để chúng gây ra tác động ảnh hưởng đến tâm thức mình). Trong khi chúng ta còn đang quán xét và mới khám phá ra được sự lừa lọc của chúng thì tức khắc chúng sẽ tan biến ngay, đấy có nghĩa là chúng ta đã đánh bại được chúng. Tâm thức sẽ tìm thấy được sự giải thoát và tự do, từ bên trong nó tất cả sẽ trở nên trống không.     
        Phép luyện tập nhìn xuyên qua các sự vật khi chúng vừa chớm hiện lên với mình cũng có thể xem như một cách dần dần mang lại cho mình từng tí giác ngộ mang tính cách đột khởi. Sự tỉnh thức từng chút một đó sẽ ngày càng trở nên rạng ngời, vững chắc và bao quát hơn. Vậy các bạn hãy cố gắng luyện tập hầu mở rộng thêm sự quán thấy sâu xa hiện lên với mình từng chút một trong những khoảnh khắc bất chợt ấy. Đến một lúc nào đó khi sự tỉnh thức trở nên hoàn hảo hơn thì tự nhiên các yếu tố bấn loạn (kilesa) sẽ vụt tan biến vĩnh viễn. Khi khoảnh khắc đó xảy đến với mình thì đấy là Nibbana (Niết-bàn), sau đó sẽ không còn xảy ra sự sinh nữa. Khi các bạn vẫn chưa đạt được thể dạng ấy thì các bạn nên tiếp tục trui rèn các khí cụ của mình – tức là sự chú tâm và quán xét của mình – thêm sắc bén. Nếu không đủ bén thì chúng sẽ không cắt được gì cả. Dầu sao thì với các khí cụ đó – dù là đang ở tình trạng nào – thì các bạn cũng cứ cắt, từng tí một, được đến đâu hay đến dấy.
        Tôi mong rằng các bạn cố gắng sử dụng tâm thức mình để quán xét và tìm hiểu những gì xảy ra bên trong nó, cho đến khi nào tất cả đều trở nên sáng tỏ. Khi đó các bạn sẽ buông bỏ được tất cả và hiểu rằng tuyệt nhiên chẳng có bất cứ một thứ gì bên trong năm thứ cấu hợp (ngũ uẩn) tạo ra mình cả, và cũng có nghĩa là các hiện tượng thể xác và tâm thần chẳng phải là “các bạn” mà cũng chẳng phải là “tôi”. Các bạn nên tiếp tục buông bỏ và cũng chỉ cần có thế. Trong lúc đang được chữa trị, dù là ở nhà hay trong bệnh viện, thì các bạn cũng nên làm những gì cần phải làm để giúp cho căn bệnh thuyên giảm, thế nhưng đồng thời cũng phải hiểu rằng ngoài các việc ấy ra nhất định còn có một thứ gì khác nữa: đó là thể dạng hoàn toàn tỉnh giác thật đặc biệt của tâm thức có thể tự buông bỏ chính nó một cách thật đơn giản và trong sáng, khiến tất cả mọi vấn đề khó khăn (trong trường hợp này là bệnh tật và các yếu tố bấn loạn trong tâm thức) phải chấm dứt (chúng ta có thể làm cho căn bệnh thuyên giảm, nhưng cũng có thể làm cho nó – và cả những thứ khó khăn khác – phải chấm dứt vĩnh viễn bằng sự giác ngộ).     

Căn bản của thiền Bankei

Tâm – theo Bankei mô tả, là một cơ cấu năng động, nghề của nó là phản chiếu, ghi lại và hồi tưởng những ấn tượng về thế giới bên ngoài; nó như một loại gương soi sống động luôn luôn vận hành, không bao giờ ở yên từ giây phút này sang giây phút kế. Trong cái tâm như gương sáng này, những ý tưởng và cảm giác cứ đến rồi đi, sinh, diệt rồi lại tái sinh tùy hoàn cảnh, tự bản chất chúng không tốt cũng không xấu. Nhưng khác với người an trú Bất sinh; người hay phản ứng phải chịu khổ vì thói bám víu ràng buộc. Người ấy không bao giờ tự nhiên thoải mái vì họ là một tên nô lệ cho những phản ứng của mình, không nhận ra được đấy chỉ là những cái bóng thoáng qua. Kết quả là người ấy luôn luôn bị treo, vướng vào những ý tưởng hay cảm xúc đặc biệt nào đó, làm trở ngại sự tuôn chảy tự nhiên của cái tâm bình thường.

Mọi sự sẽ vận hành suông sẻ, Bankei nhấn mạnh, nếu chúng ta làm ơn xê ra để cho mọi sự tự nhiên vận hành. Ngài chứng minh điều này bằng cách chỉ cho thính giả thấy rằng, ngay dù trong khi tập trung lắng tai nghe giảng, họ vẫn tự động ghi nhận được mọi sự khác ở xung quanh, như tiếng quạ kêu, chim sẻ chíp chíp, những màu sắc và mùi hương khác nhau, đủ hạng người đang ở trong phòng giảng. Không ai cố tình làm vậy, chuyện ấy chỉ xảy xa một cách tự nhiên. Bankei bảo, đó chính là cái cách mà Bất sinh vận hành.
Đối với Bankei, điều quan trọng là buông xả, phá vỡ cái khuôn ngã chấp và những thói quen xấu, những thành phần chính của si mê. Ngã chấp hay sự tập trung vào tự ngã, là căn để của cái tôi giả tạo. Chính ngã chấp khiến chúng ta phán đoán mọi sự trên một quan điểm ích kỷ hẹp hòi. Chất liệu nuôi dưỡng thái độ này là những thói quen xấu, những tì vết trong nhân cách, cũng như sự chấp ngã, vốn là hậu quả của hoàn cảnh.
Theo Bankei, chúng ta khi còn bé thường bắt chước những người lớn xung quanh mình, và dần dần tích tập một số thói xấu cuối cùng trở thành thâm căn cố đế tới nỗi ta lầm cho đó là bản ngã đích thực của mình. Tuy nhiên, khác với Phật tâm bất sinh ; thói xấu hay sự chấp ngã đều không phải bẩm sinh, được hấp thụ về sau, do ảnh hưởng bên ngoài. Mỗi khi bị si mê lầm lạc là chúng ta tạm thời bỏ rơi Tâm Phật mà ta đã có từ khởi thủy để đổi lấy những phản ứng mới học đòi này. Khi sự tình này xảy đến thì phát sinh đối đãi nhị nguyên, từ tính nhất thể nguyên ủy, ta sinh vào những cảnh huống khác nhau như ngạ quỷ (quỷ đói), a tu la (quỷ chiến đấu), súc sinh, địa ngục, đi từ loài này đến loài khác, bị vướng vào luân hồi bất tận. Cách duy nhất để ra khỏi ngõ bí này, theo Bankei là trở về theo con đường mà từ đó ta đã phát xuất, trở về cái Vô điều kiện, cái chưa từng được tạo tác – cái Bất sinh. Cái mà ta có được từ lúc mới sinh, ấy chính là cái Tâm Phật.
Tâm Phật là bất sinh và chiếu sáng một cách kỳ diệu, với cái bất sinh ấy thì mọi sự đều hoàn bị cả rồi. Hãy an trú trong Tâm Phật bất sinh. Đây là căn bản của thiền Bankei, cương yếu của ngài về Bất sinh. Ngài giải thích điều ấy nhiều lần bằng nhiều cách, vì theo ngài thì chân lý Bất sinh thực quá đơn giản, quá trực chỉ, ai cũng nắm được. Theo nghĩa ấy, thiền của Bankei quả là rất phổ thông. Cũng có nhiều thiền sư khác đã giảng dạy cho người thế tục, nhưng phần nhiều, thiền chính thống được xem là quá khó đối với người thường, nên giáo lý phổ thông của các thiền sư ấy không bao giờ nói đến thiền. Thay vì thế, họ chỉ nói về giáo lý chung chung, đề cao những việc công đức như lễ bái niệm Phật, và thảo luận về những khái niệm trong các kinh Phật.
Bankei hoàn toàn ngược lại. Ngài cho rằng cốt tủy của thiền hoàn toàn giản dị, trực tiếp, mà bất cứ ai có tâm hồn mở rộng cũng có thể hiểu khi được chỉ cho. Bankei nhấn mạnh, muốn dạy thiền, người ta phải đi ngay vào cốt lõi, lột hết những gì màu mè che đậy bên ngoài – những thuật ngữ khó hiểu, những danh từ ngoại lai lạ tai.
Đấy là lý do chính khiến Bankei phản đối sử dụng công án trong thiền. Theo ngài, toàn thể phương pháp thiền công án thật là gượng ép một cách thảm hại. Ngài thấy sự uyên bác là điều hoàn toàn không cần thiết để học thiền, lại còn là một sự vướng bận vô ích. Ngài loại bỏ công án vì cho đấy là một kỹ thuật giả tạo. Những công án nguyên ủy không phải là những mẫu mực mà là những sự thật xảy ra trong đời sống. Những thiền sư ngày trước chỉ đơn giản ứng phó với những tình huống đặc biệt mà họ gặp, tùy theo nhu cầu của những môn đệ đương thời. Bất cứ thiền sư nào cũng tùy cơ ứng biến như vậy cả.
Vậy thì, chỉ cần bảo họ nhìn vào những công án riêng của chính họ, cái cách mà tâm Bất sinh đang vận hành ngay tại đây và bây giờ, trong những hoàn cảnh sống hiện thực. Đây là điều mà Bankei gọi là lối dạy trực tiếp, đối lại với lối tham công án mà ngài gọi là tham cứu giấy lộn. Bankei bảo công án chỉ là một phương tiện, những bậc thầy nào còn dựa vào đó hay vào bất cứ kỹ thuật nào khác, thì cũng đều thực hành pháp thiền phương tiện. Tại sao cần phải dựa vào phương tiện khi ta có thể dùng ngay thứ thiệt? Bankei lập luận.
Theo nghĩa ấy, Bankei lại là một người theo truyền thống. Ngài quay về những thiền sư của thời hoàng kim – trước cả thời vinh quang của công. Bankei nhấn mạnh rằng giáo lý ngài cũng như của Lâm tế, và nhiều điểm tương đồng giữa những Bài giảng của ngài với Lâm tế ngữ lục cho ta thấy có lẽ bậc thầy Trung hoa đã có ảnh hưởng quan trọng trong pháp thiền Bankei. Nhưng nhìn chung, giáo lý của Bankei vẫn có gì rất thực độc nhất vô nhị.
Một điều mỉa mai, sở dĩ giáo lý ấy không thịnh hành cũng bởi chính những đức tính độc đáo của nó, những đức tính đặc biệt đã lôi cuốn những người đến học Bankei: đó là nó quá giống với cá tính ngài, không thỏa hiệp với bất cứ phương pháp hay kỹ thuật nào. Cuối cùng, pháp thiền Hakuin (Bạch Ẩn) khôi phục và hệ thống hóa thiền công án ở Nhật, đã quét sạch những tu viện thuộc tông Thiên thai và lại còn xâm nhập Long môn tự cùng các chùa khác thuộc hệ thống Bankei.
Hakuin cho rằng giáo lý Bất sinh của Bankei là phạm thánh và cực lực đả kích. Nhưng thế kỷ hai mươi lại bắt đầu chú ý đến thiền Bankei. Nhà học Phật D.T. Suzuki (1886-1975) là người tiên phong hiện đại đã đề cao giáo lý Bankei, hoan nghênh giáo lý này xem như một liều giải độc cho pháp tham công án quá khô khan, và xem Bankei như một trong ba thiền sư vĩ đại của Nhật bản, ngang hàng với Dogen và Hakuin (Đạo Nguyên và Bạch Ẩn). Suzuki cùng những học giả khác khởi sự sưu tập và ấn hành những ngữ lục và giáo lý của Bankei, mà phần lớn còn nằm rải rác bị bỏ quên trong các chùa ngoại ô – và hiện nay một lần nũa Bankei lại được nhiều người biết đến.
Tính lôi cuốn của Bankei cũng dễ hiểu. Mặc dù thế giới ngài sống khác xa với thế giới hiện đại, song vẫn có cái gì rất gần gũi với chúng ta trong nhiều điều ngài dạy. Cảm nghĩ về tự do giải thoát, tính nhân hậu của ngài, cách ngài đề cập những vấn đề tối hậu không tách rời với đời sống hàng ngày của con người, dường như hoàn toàn ăn nhịp với tinh thần thời đại. Và khi chúng ta đang lật xem những trang Bài giảng, thì Bankei dường như vẫn còn đấy, sống động một cách lạ lùng, và đang chiếu sáng một cách kỳ diệu.

***

Lắng nghe

Sư bảo chúng: Trong tất cả quý vị tại đây hôm nay, không một ai là người chưa giác ngộ. Mỗi người ở đây đều là một vị Phật. Bởi thế hãy lắng nghe cho kỹ. Cái mà tất cả quý vị thừa hưởng của cha mẹ lúc mới lọt lòng, chỉ là cái tâm Phật bất sinh. Không có cái bẫm sinh nào khác ở nơi quý vị. Cái tâm Phật mà quý vị có từ lúc mới sinh, thực sự là bất sinh và chiếu sáng một cách kỳ diệu. Hơn thế nữa, với cái bất sinh này mọi sự đều được thu xếp một cách toàn hảo. Bằng chứng về điều này là, trong lúc tất cả quý vị đang lắng nghe tôi nói, mà ngoài kia có tiếng quạ kêu, tiếng chim sẻ chíp chíp, tiếng gió xào xạc… mặc dù không cố tình phân biệt những âm thanh ấy, quý vị vẫn nhận ra và phân biệt được từng tiếng: tiếng chim quạ, tiếng chim sẻ, tiếng gió xao cành – quý vị nghe mà không lầm lẫn, đấy gọi là nghe với cái Bất sinh.
Với cái Bất sinh, tất cả mọi sự được thu xếp hoàn toàn ổn thỏa cũng y như vậy. Đấy là bằng chứng thực sự về cái Bất sinh. Hãy nhận ra một cách dứt khoát rằng cái không sinh và đang chiếu sáng kỳ diệu ấy đích thực là Tâm Phật. “An trú ngay trong Tâm Phật Bất Sinh ấy, thì từ đây cho đến mãi mãi quý vị là một đức Như Lai sống”.Vì khi đã nhận ra một cách rốt ráo thì từ nay trở đi quý vị sẽ luôn an trú trong Tâm Phật, nên trường phái của tôi mệnh danh là trường phái “Phật tâm”.
Thật vậy, trong khi đang lắng nghe tôi nói, quý vị vẫn không lầm lẫn tiếng chim sẻ với tiếng quạ kêu bên ngoài, không lầm lẫn tiếng chuông với tiếng trống, tiếng đàn ông với tiếng phụ nữ, tiếng người lớn với tiếng trẻ con – quý vị nhận ra và phân biệt rõ ràngtừng thứ tiếng quý vị nghe, không lẫn lộn chút nào. Đấy chính là cái diệu dụng linh động chiếu sáng của Bất sinh. Đó không là gì khác, mà chính là Phật tâm bất sinh đang chiếu sáng một cách kỳ diệu, là bằng cứ xác thực về bản chất chiếu sáng vi diệu của Tâm.
Mỗi người, khi dứt khoát nhận ra được cái bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu ấy, an trú trong đó, thì từ nay cho đến mãi về sau là một vị Phật sống. Cả đến khái niệm Phật cũng chỉ là một tên gọi được đặt ra về sau, bởi thế, từ nơi Bất sinh mà nhìn, thì đó cũng chỉ là chuyện phụ thuộc, không có gì quan trọng. Con người của Bất sinh ở tận nguồn gốc của tất cả các vị Phật. Cái gì bất sinh thì đó là suối nguồn của tất cả mọi sự, là khởi điểm của mọi sự. Không có gì “nguyên sơ” hơn là cái Bất sinh, không có gì ở trước nó. Bởi thế nên khi quý vị trú trong Bất sinh là quý vị ở nơi ngọn nguồn của tất cả Phật, và bởi thế Bất sinh là một cái gì quý báu tuyệt trần. Ở đây không có vấn đề diệt, cho nên khi trú trong bất sinh thì cũng không cần gì nói đến bất diệt. Đấy là lý do tại sao tôi chỉ nói về Bất sinh mà không đề cập bất diệt. Cái gì không được tạo tác thì cũng không bị hủy hoại, bởi thế, khi nó đã bất sinh thì đương nhiên cũng bất diệt. Phải vậy không nào?
Dĩ nhiên, từ ngữ bất sinh bất diệt đã có rải rác trong kinh điển và ngữ lục từ xưa, nhưng chưa ai nói bằng chứng thực sự của cái Bất sinh. Ai cũng chỉ học từ ngữ bất sinh bất diệtrồi lặp đi lặp lại, nhưng đến việc nhận cho ra và thực sự đi thẳng vào trọng tâm vấn đề, thì không ai hiểu được Bất sinh là cái gì.

Giới luật

Một bậc thầy thuộc Luật tông đến hỏi: Ngài có tuân giữ giới luật không?
Sư trả lời: Từ khởi thủy, tất cả những gì mà người ta gọi là giới luật đều cốt dành cho những thầy tu tồi tệ phá giới. Với người an trú trong tâm Phật bất sinh thì không cần nói đến giới. Giới được dạy là để giúp chúng sinh, không để giúp Phật! Mọi người khi cha mẹ mới sinh chỉ có duy nhất cái Tâm Phật Bất sinh, bởi thế hãy an trú trong tâm bất sinh ấy. Khi an trú trong Bất sinh, thì bạn đã là một vị Phật sống ngay bây giờ rồi, và vị Phật ấy cố nhiên không vẽ vời những chuyện như thọ giới, bởi thế không có giới điều nào cho ông ta thọ. Bày đặt những chuyện như thọ giới thì không phải là ý nghĩa của Tâm Bất sinh. Khi ta an trú trong Bất sinh thì không cách gì phạm giới nổi. Từ nơi Bất sinh, giới luật cũng thành phụ thuộc nhảm nhí, trong chỗ Bất sinh, thực sự không có gì là giới luật.

Biết tâm người khác

Có người hỏi: Ai cũng nói ngài có tha tâm thông, có phải thế không?
Sư đáp: Trong trường phái của tôi, không có những chuyện phi thường. Và dù nếu có, chúng tôi cũng không sử dụng, vì tâm Phật vốn bất sinh. Khi nói với bạn, thì tôi làm việc với chính bản ngã của bạn, nên bạn tưởng là tôi có tha tâm thông. Nhưng tôi không có thần thông như thế. Tôi cũng giống như bạn mà thôi. Khi bạn trú trong Bất sinh, là bạn ở tận ngọn nguồn của tất cả thần thông diệu dụng của chư Phật, không cần tìm kiếm thần thông mà có thể xử lý mọi chuyện một cách êm thấm dễ dàng. Trong chính giáo lý về Bất sinh, bạn có thể dàn xếp mọi sự bằng cách làm việc với chính bản ngã của bạn, không cần đưa vào những vấn đề ngoại lai.
Có người hỏi: Tôi đã nỗ lực hết sức để tiến đừng lùi, nhưng dù làm gì đi nữa, khuynh hướng thụt lùi vẫn mạnh hơn, và có những lúc tôi lùi thực sự. Và càng cố tiến tới, thì tôi chỉ có thấy mình lại thụt lùi. Làm sao cho tôi khỏi thụt lùi?
Sư nói: Hãy an trú trong Tâm Bất sinh! Khi an trú, bạn không cần bận tâm về tiến hay thoái. Quả vậy, khi bạn an trú Bất sinh, thì nỗ lực tiến tới là lập tức đang lùi khỏi vị trí Bất sinh. Người của Bất sinh không can dự gì đến tiến hay lùi, mà vượt trên cả hai.

Sống như Phật

Cái gì đã khiến một đám đông người như thế này đến đây khi trời vừa mới sáng, để lắng nghe tôi nói, cái ấy không gì khác hơn là Tâm Phật Bất sinh. Nếu không thấy có cái gì thật phi thường trong những lời tôi nói, thì quý vị đã không quày quả ra đi sớm như vậy để đến nơi đây. Vậy là, trong số quý vị đến tham dự buổi giảng hôm nay, những người tuổi ngũ tuần thì đã sống 50 năm không nhận ra Tâm Phật ngay trong mình, những người tuổi ba mươi đã sống 30 năm mà cho đến ngày hôm nay vẫn chưa nhận ra được sự thật ấy – tất cả quý vị đều trải qua những năm tháng của đời mình trong sự mờ mịt.
Nhưng tại giảng đường hôm nay khi quý vị đã hoàn toàn nắm vững rằng mỗi người trong đây đều có sẵn tâm Phật Bất sinh ngay trong mình, thì từ hôm nay trở đi quý vị sẽ sống trong cái Tâm Phật ấy mà thôi, và sẽ mãi mãi thành những vị Phật sống. Điều tôi đang nói với tất cả quý vị chỉ cốt là làm cho quý vị nhận ra rằng Tâm Phật Bất sinh đang chiếu sáng một cách kỳ diệu. Khi đã hoàn toàn nhận ra điều này, thì từ đây mãi mãi về sau, quý vị sẽ có một thân Phật không khác gì thân đức Phật Thích ca, và sẽ không bao giờ đọa lạc trở lại vào ba ác đạo. Tuy nhiên, trong khi nghe giảng như thế này quý vị dù có thể hiểu rõ Tâm Phật Bất sinh, mà khi trở về lại nhà, những điều quý vị trông thấy và nghe thấy sẽ khởi động cái tâm giận dữ nơi quý vị trở lại. Và khi ấy, dù chỉ nổi giận một chút xíu, quý vị cũng sẽ mang tội gấp triệu lần trước khi nghe tôi giảng về Tâm Phật Bất sinh. Khi ấy quý vị sẽ chuyển từ cái tâm Phật Bất sinh mà quý vị đã biết, thành ra những chúng sinh ở địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, mãi mãi luân hồi.
Cái tâm Phật bất sinh đó là gì vậy? Trong khi tất cả quý vị đều tập trung thính giác nghe giảng như thế, mà bên ngoài có tiếng chó sủa, tiếng người hàng rong rao hàng, mặc dù không cố ý nghe, quý vị vẫn nghe được tất cả những thứ tiếng ấy: đó là nghe với cái Bất sinh, diệu dụng của Phật tâm. Ví như: Tâm Phật, vốn chưa từng sinh ra và đang chiếu sáng kỳ diệu, tâm ấy giống như một tấm gương sáng. Gương thì phản chiếu bất cứ gì xuất hiện trước nó. Nó không cố ý phản chiếu sự vật, nhưng bất cứ vật gì đến trước gương, thì màu sắc dáng hình của nó đều chắc chắn hiện ra. Cũng vậy, khi vật được dời đi, thì tấm gương cũng không cố ý không phản chiếu, nhưng khi vật đã bỏ đi thì bóng nó cũng không còn hiện trong gương. Cái tâm Phật Bất sinh cũng hệt như thế. Khi bạn cố ý nhìn và nghe điều gì, thì bạn sẽ nghe và thấy, đó là lẽ tự nhiên. Nhưng khi bạn thấy và nghe được những gì mà trước đấy bạn không dự định để thấy nghe, thì đó chính là nhờ cái diệu dụng linh hoạt của Tâm Phật mà mọi người ai cũng có. Đấy là ý nghĩa cái Tâm Phật Bất sinh. Khi tôi đã tìm cách giảng giải về cái Bất sinh sao cho tất cả quý vị đều hiểu được như thế, mà nếu có người vẫn chưa hiểu, thì dù vị ấy có nghe ngàn vạn lần cũng không ăn thua gì. Người nào dù chỉ nghe một bài giảng, đã nhận ra được Tâm Phật bẩm sinh nơi tất cả mọi người, thì người ấy từ đó trở đi trở thành Phật sống.
Lấy một ví dụ khác. Giả sử có người đi từ Takamatsu đến Marugame mà không biết đường, gặp một người biết rành đường lối chỉ bày cho. Sau khi nhớ kỹ những lời chỉ dẫn, người ấy theo đó mà đi và đến đích không khó khăn gì. Cũng thế, khi tất cả quý vị đã nắm được chính xác những gì tôi nói, thì từ đấy trở đi quý vị sẽ an trú trong tâm Phật bản nhiên. Ngược lại nếu không an trú được như thế, thì cũng như đã được người ta chỉ cho đường đến Marugame mà không theo, lại theo con đường dẫn tới nơi nào khác. Đó là lý do quý vị nên lắng nghe kỹ những gì tôi nói. Tôi không chắc có thể trở lại đây nói chuyện cùng quý vị nữa không. Cho dù quý vị đi nghe giảng nơi nào khác, cũng không chắc có người nào giải thích cho quý vị về cái Tâm Phật bất sinh mà chiếu sáng kỳ diệu này. Bởi vậy nếu chư vị thấy lời tôi nói có lý, thì hãy nên coi chừng ngăn chặn sự nổi lên đủ loại ý tưởng, để chấm dứt vòng luân hồi. Nếu không thành Phật ngay bây giờ thì trong mười ngàn kiếp quý vị cũng sẽ khỏi tái sinh lại trong cõi này, bởi thế hãy nỗ lực thực chứng một cách rốt ráo cái Tâm Phật Bất sinh, và chớ để bị mê lầm. Được như vậy thì ngay từ hôm nay, quý ông sẽ là những người nam an trú Tâm Phật, quý bà sẽ là những người nữ an trú Tâm Phật, tất cả đều hết si mê lầm lạc. Đó không gì khác hơn là Phật quả, là giác ngộ.
Tôi có thể nói cho quý vị vài điều về Tâm Phật nơi phụ nữ. Theo tôi hiểu, phụ nữ thường rất buồn khi nghe nói họ không thể thành Phật. Nhưng sự thực không phải vậy. Có gì khác nhau giữa nam và nữ? Thân nam là thân Phật, thân nữ cũng là thân Phật. Quý vị không nên nghi ngờ gì về điểm này. Khi quý vị đã hoàn toàn nắm được lý Bất sinh, thì trong Bất sinh, không có gì khác nhau giữa nam hay nữ. Mọi người đều là thân Phật.
Về phương diện hình thể, rõ ràng là nam nữ khác nhau, nhưng về phương diện Tâm Phật thì không có khác gì. Quý vị đừng bị tướng bề ngoài làm cho lầm lạc. Tâm Phật vẫn giống nhau, không có khác biệt nào giữa nam với nữ.
Tôi xin chứng minh với quý vị điều này. Trong giảng đường hôm nay có rất đông người tụ tập, nhưng khi nghe tiếng trống hay tiếng chuông ngoài kia, quý vị có nghĩ là phụ nữ lầm tiếng chuông là tiếng trống, tiếng trống là tiếng chuông chăng? Quý vị có thực nghĩ rằng có gì khác nhau trong cách đàn ông nghe với cách phụ nữ nghe những tiếng ấy? Tuyệt đối không khác chút nào. Lại nữa, thưa tất cả quý vị, đâu phải việc này chỉ đúng cho “nam giới và nữ giới” mà thôi. Trong giảng đường này, chúng ta có những người trẻ và người già, tăng và tục, đủ tất cả hạng người; nhưng nói đến sự nghe chuông trống, quý vị có thể nói được hay chăng, rằng người già nghe cách này, người trẻ nghe cách khác? Không có sự khác nhau trong cách tu sĩ nghe, cách cư sĩ nghe, cách đàn ông nghe, cách đàn bà nghe chăng? Điều ấy chứng tỏ tất cả mọi người đều sẵn có bẩm sinh một Tâm Phật đồng nhất. Vậy thì nói về nam và nữ chẳng qua chỉ là những danh từ, những cái bóng của tâm sản xuất ra. Trước khi những cái bóng ấy phát sinh, ở trong cảnh giới Bất sinh không có gì là nam hay nữ. Và vì sự tình là vậy, thì không có gì khác nhau giữa Tâm Phật nơi người nam và Tâm Phật nơi người nữ.
Giả sử trong lúc bạn đang an trú liên tục trong Bất sinh, trong Tâm Phật, quên hết những phân biệt nam nữ, nhưng đột nhiên bạn trông thấy hay nghe một việc gì rối rắm, chẳng hạn có người nào nói xấu bạn, hay những ý niệm tham dục bám víu khởi lên trong bạn mà bạn ràng buộc vào đó, thế là bạn đang chuyển tâm Phật thành ra ý nghĩ, chẳng hạn nghĩ “chỉ vì mình là một phụ nữ” hay đại loại như thế. Nếu không bị đánh lừa bởi hình tướng bên ngoài, hoàn toàn nắm lấy con đường duy nhất, cái Bất sinh, thì bạn sẽ thấy rằng không những nam hay nữ, mà chư Phật trong quá khứ hay vị lai cũng đều là một Tâm Phật đồng nhất ấy. Không lý do gì phụ nữ lại là một trường hợp đặc biệt, không thể chứng thành Phật quả.
Nếu sự thực có vài lý do khiến phụ nữ không thể thành Phật, mà tôi lại nói là họ có thể, để xí gạt tất cả quý vị, thì bảo đảm tôi sẽ phải đáp xuống địa ngục ngay lập tức. Chỉ vì mong thành Phật quả mà ngay từ tấm bé tôi đã phải chịu bao nhiêu gian khổ tu hành; không lẽ ngày nay tôi lại cố nói dối với quý vị để bị đọa xuống địa ngục? Những gì tôi nói với quý vị không phải là dối trá. Tôi muốn các vị phải nắm kỹ điều này, để từ nay trở đi, hãy an tâm mà sống những ngày tháng của các vị ở trong Tâm Phật Bất sinh…
Lại nữa, ngay cả nơi những người xấu ác, Tâm Phật vẫn không biến mất. Khi bạn lật ngược cái tâm xấu của họ, thì đấy là tâm Phật không gì khác. Tôi xin kể cho quý vị nghe một kẻ ác có tâm Phật là thế nào. Giả sử có hai người cùng đi với nhau từ đây đến Taka-matsu, một người thiện một người ác. Nhưng cả hai không ai để ý gì đến chuyện thiện ác mà cứ vừa đi vừa nói chuyện dọc đường. Hai bên đường hoặc trên đường có cái gì, thì mắt của người thiện cũng như người ác đều trông thấy như nhau. Nếu có con ngựa hay con bò xông tới trước mặt thì cả hai đều biết nhảy tránh, mặc dù không tính trước. Nếu có gặp hố nước, cả hai cùng nhảy qua, gặp sông thì cùng lội. Sở dĩ có phản ứng giống nhau như vây là vì người tốt lẫn người xấu đều cùng có một căn bảnchung là Tâm Phật Bất sinh.
Mỗi người trong đây cũng thế, từ trước đến nay, đã từng làm ác, bị ngốn ngấu bởi đủ loại bám víu và thèm khát, bị xâm chiếm bởi sân si, nên phải chịu luân hồi, chuyển đổi cái tâm Phật quý vị vốn có thành a tu la và quỷ đói. Nhưng sau khi nghe giải thích về tâm Phật Bất sinh rồi nếu quý vị hiểu rõ, thì chính cáitâm tham dục sân giận bám víu bấy lâu nơi quý vị lập tức sẽ chuyển thành Tâm Phật bất sinh, và quý vị sẽ không bao giờ mất tâm ấy, dù trải qua bao nhiêu kiếp. Khi quý vị an trú trong tâm Phật ấy, thì từ đây quý vị sẽ là những Phật sống. Nhưng đừng lầm; nếu bây giờ quý vị đánh mất tâm Phật ấy thì cả đến trăm ngàn kiếp sau quý vị cũng không thành Phật được. Hãy nên nhớ kỹ điều này.
Dù cho những thói tật thâm căn cố đế nơi quý vị sẽ khiến quý vị bám lấy những gì gặp phải, vọng tưởng chốc lát khởi lên, thì người có đức tin bền chắc sẽ không bám víu cũng không xua đuổi chúng – trong nháy mắt, người ấy sẽ dễ dàng quay trở về với Phật tính bất sinh. Ngay cả đối với chư Phật chư tổ, cũng không phải rằng các ngài hoàn toàn không có tư tưởng nào từ khởi thủy. Nhưng vì các ngài không bị vướng vào tư tưởng, và cũng như trẻ con, không có tưởng tương tục, nên cũng như thể là tư tưởng chưa từng sinh khởi. Chính vì vậy mà Phật, tổ giải thoát khỏi tư tưởng.
Khi tư tưởng không khởi lên, thì cái diệu dụng chiếu sáng linh hoạt của tâm Phật không hiện rõ, bởi thế sự sinh khởi những ý tưởng kỳ thực là diệu dụng của Phật tâmchiếu sáng. Nội cái việc tôi đang giải thích điều này và quý vị đang tiếp nhận đó cũng là do mọi người đều có được cái công năng chiếu sáng kỳ diệu của Tâm Phật bẩm sinh. Có phải điều ấy thật quý báu không? Vậy hãy nhớ kỹ điều này, nhận thức rõ rằng, gặp cảnh gì cũng dấy động tư tưởng thì chỉ chuốc lấy khổ đau. Bởi thế đừng chuyển cái Tâm Phật thành ra những tơ tưởng vốn không phải bẩm sinh nơi bạn, và hãy sống trọn ngày an trú trong Tâm Phật Bất sinh….
Chúng ta thường thấy, khi có người nào được ca tụng “Anh ta hay thật, giỏi thật!”, khi nghe vậy, một người khác sẽ tìm cách bôi nhọ cả đến những tài năng của người khác. Rõ ràng, đó là thói xấu của người kiêu ngạo. Có phải thái độ ấy thực sai lầm ghê gớm không? Chúng ta nên hoan hỉ khen ngợi người đáng khen, và khi nghe ai được hạnh phúc, hãy vui mừng như chính mình hạnh phúc. Sự thể đáng lẽ phải vậy. Người được như thế là người sáng suốt không để mờ tâm Phật. Nhưng nếu khi thấy hay nghe điều gì, mà bạn phản ứng với lòng kiêu căng hay cuồng tín, thì thế là bạn đã chuyển cái tâm Phật bẩm sinh nơi bạn thành một giống dân địa ngục…
Khi dẹp bỏ thói tức giận, tham lam, bám víu, chấp ngã, thì dù với kẻ tôi tớ, quý vị cũng không dữ dằn, mà bày tỏ lòng thương. Dù với tôi tớ, ta cũng không nên nghĩ họ không liên hệ gì đến mình. La mắng người khác xối xả, tức giận điên cuồng, đó là một lỗi lầm lớn. Từ trước đến nay, vì không hiểu nguyên tắc đằng sau sự việc, nên bạn tha hồ nổi nóng không cần suy nghĩ, tin rằng sự sân si tức giận là lẽ tự nhiên thường tình trong cõi người ta. Nhưng bây giờ, khi đã nghe về Tâm Phật bất sinh mà mỗi người đều sẵn có từ lúc mới sinh ra, thì từ đây về sau quý vị nên giữ gìn đừng làm hại cái tâm ấy.
Trên thế gian không có gì quý bằng Tâm Phật. Vì tất cả quý vị đều đang cố thực chứng Tâm Phật bất sinh, nên cần phải hiểu cho thấu đáo mới được. Tôi không bảo quý vị phải tu theo pháp này pháp nọ, phải giữ giới, phải tụng kinh, phải xem Ngữ lục của chư tổ, phải tọa thiền…Tâm Phật vốn đã sẵn nơi tất cả quý vị, không có cái chuyện tôi đem lại cho quý vị tâm Phật ấy. Khi lắng nghe bài giảng này, hãy nhận ra tâm Phật mà mỗi người đều có ngay trong chính mình, rồi từ nay về sau hãy an trú trong Tâm Phật bất sinh ấy. Một khi quý vị đã xác chứng được Tâm Phật mà mọi người bẩm sinh đều có, thì quý vị muốn đọc kinh cứ việc đọc kinh, muốn ngồi thiền cứ việc ngồi thiền, muốn giữ giới cứ việc thọ giới, muốn niệm Phật cứ việc niệm Phật, muốn trì chú cứ việc trì chú, hay cứ việc làm phận sự hàng ngày của quý vị – công việc sẽ là pháp chánh định của mỗi người. Tôi chỉ nói một điều duy nhất là: hãy nhận ra tâm Phật mà mỗi người quý vị bẩm thụ từ lúc cha mẹ mới sinh. Điều cốt yếu là nhận ra, và an trú trong tâm ấy với trọn vẹn niềm tin tưởng…
Sư dạy chúng: Như quý vị đều đã nghe tôi nói, mọi người bẩm sinh đều có tâm Phật, vậy quý vị chỉ cần làm mỗi một việc duy nhất là an trú trong cái tâm Bất sinh ấy. Thế nhưng, vì theo thói đời, quý vị đã vướng vào những tệ đoan và đã chuyển tâm Phật thành ra quỷ đói luôn bám víu thèm khát. Hãy nhớ kỹ điều này, để luôn trú trong tâm Phật bất sinh. Nhưng nếu vì mong mỏi nhận cho ra cái Bất sinh mà quý vị rán ngăn chặn những ý tưởng giận dữ thèm khát không cho chúng khởi lên, thì khi làm như vậy quý vị đã phân chia một cái tâm duy nhất ra làm hai. Cũng như thể là quý vị đuổi theo một cái gì đang trốn chạy. Khi ta còn cố ý ngăn tư tưởng khởi lên, thì cái ý ấy chống lại với những ý khác đang khởi lên liên tục, thế là không bao giờ có sự chấm dứt thật sự. Việc ấy cũng như thể là dùng máu để rửa máu, không bao giờ sạch được. Cũng vậy, mặc dù những tư tưởng giận dữ mà bạn ngăn chặn ấy có thể chấm dứt, nhưng cái tư tưởng sau dùng để ngăn chặn tư tưởng trước cứ tiếp tục không bao giờ dừng nghỉ. Bạn có thể hỏi, vậy phải làm sao? Nếu bỗng dưng ý tưởng giận dữ, hay thèm khát, hay bám víu… khởi lên nơi bạn một cách bất trị, ngoài ý muốn, thì đừng khai triển nó thêm, đừng để ý đến nó. Đừng bận tâm ngăn chặn hay không ngăn chặn, chỉ cần mặc kệ nó, thì nó không thể làm gì khác hơn là đi đến chấm dứt. Bạn không thể cãi với vách tường nếu bạn chỉ đứng một mình. Khi không có ai ở đấy để chiến đấu, thì mọi việc tự động đi đến chấm dứt.
Dù cho đủ mọi thứ tư tưởng tạp loạn thò mặt ra, thì cũng chỉ ló ra trong một chốc. Nếu bạn không bám víu một tư tưởng nào đặc biệt, như vui hay buồn, không nghĩ tới chuyện chấm dứt hay không chấm dứt nó, thì thế chính là an trú trong Tâm Bất sinh. Hãy giữ cho cái tâm duy nhất vẫn là cái tâm duy nhất. Nếu tâm bạn luôn luôn như vậy, thì dù cho điều tốt điều xấu gì khởi lên cũng tự động chấm dứt mà không cần bạn phải cố nghĩ hay không nghĩ. Cái mà bạn gọi là cơn giận hay niềm vui toàn là do bạn sản xuấtvới mãnh lực của tính chấp ngã, hậu quả của dục vọng ích kỷ. Khi vượt ngoài mọi ý tưởng bám víu thì những tư tưởng kia sẽ tự động tan biến. Sự biến mất ấy chính là cái Bất diệt. Và cái bất diệt chính là Tâm Phật bất sinh.
Tóm lại, điều chính yếu là luôn luôn nhớ đến Tâm Phật bất sinh, không hâm nấu những tư tưởng này nọ trên cái nền Bất sinh ấy, nghĩa là đừng bám lấy những gì bạn gặp phải và đổi cái tâm Phật thành ra những ý tưởng. Khi bạn không bị lay chuyển, thì không tư tưởng nào còn khởi lên dù tốt hay xấu và do đó cũng không cần gì phải diệt. Như thế có phải là bạn không tạo tác cũng không hủy diệt hay chăng? Đấy không gì khác hơn là cái Tâm Phật bất sinh bất diệt đó vậy. Hãy hiểu rõ điều này.

Tự tại trong sống chết

Khi bàn đến vấn đề tự tại với sống chết, người ta thường dễ hiểu lầm. Có những người công bố trước ngày giờ họ sẽ chết, rồi đến lúc ấy, không đau ốm gì họ lăn ra chết thực; hoặc đôi khi triển hạn qua ngày khác mới chết. Rất nhiều người xem đấy là tự tại trong việc sống chết. Tôi không phủ nhận điều đó. Nói về tự tại, thì những người ấy quả là tự tại kinh khủng! Nhưng những chuyện như thế chỉ là do năng lực khổ hạnh nơi họ, và thường họ chưa mở được con mắt tuệ (Tuệ nhãn hay Pháp nhãn của Bồ tát để thấy rõ thực chất mọi sự vật và để cứu độ hữu tình). Ngay trong số những người thường, ta cũng thấy những trường hợp biết trước cái chết như vậy, trong khi họ chưa mở khai đạo nhãn.
Con người của Bất sinh thì siêu việt cả sống chết. Bây giờ, có lẽ quý vị đang tự hỏi siêu việt sống chết là thế nào. Cái gì đã bất sinh thì bất diệt, và cái gì bất diệt thì không chết, nên gọi là siêu việt sinh tử. Vậy một người tự tại trước sống chết theo tôi, là một con người khi chết không bận tâm về chuyện sống chết. Hơn nữa, vấn đề sống chết vẫn xảy ra hàng ngày với chúng ta, không phải đợi đến lúc ta chạm mặt với cái chết thực sự mới gọi là chết. Một người tự tại trong sinh tử là người không bao giờ bận tâm đến sống chết, vì biết khi còn được sống thì cứ sống, khi đến thời chết thì cứ chết, dù chết ngay bây giờ cũng được, cái chuyện lúc nào chết không quan trọng lắm. Người như thế cũng là người đã rốt ráo thực chứng cái Tâm Phật bất sinh chiếu sáng kỳ diệu. Cứ nói và suy nghĩ về những chuyện vặt vãnh như bạn sẽ chết vào giờ ngày nào, quả thực là tâm lý hẹp hòi, phải vậy không?
Rồi lại có ý nghĩ cho rằng “sinh tử là niết bàn”, đây cũng lại là một cái gì vẫn còn ràng buộc với sinh tử. Ai cũng biết cảnh giới của sinh tử không khác gì cảnh giới của niết bàn. Cái lý do người ta phải nói lên như vậy là vì họ không thực chứng cái Tâm Phật mà mọi người bẩm sinh đã có và hiện tại đang giải quyết mọi sự với Bất sinh. Bị bao phủ, gói kín trong danh tự chữ nghĩa, họ cứ lang thang tìm khắp nơi cái sinh tử và niết bàn ở bên ngoài, đổi cái Tâm Phật bất sinh của họ để lấy những khái niệm về sống chết và niết bàn, khiến họ tối ngày cứ lẩn quẩn trong lĩnh vực sinh tử không có giây phút nào bình yên. Nghĩ thật đáng thương xót.
Vì Tâm Phật đang dàn xếp mọi sự một cách hoàn toàn ổn thỏa với cái Bất sinh, nên nó không cần biết đến sinh tử hay niết bàn. Từ vị trí Bất sinh, thì sinh tử và niết bàn cũng chỉ là một mớ tư duy trống rỗng. Nên ngay cả một người mới hôm nào vẫn ngụp lặn trong sinh diệt, mà hôm nay nhận ra mình đã lầm, từ đó không còn đổi cái Tâm Phật bất sinh thành ra ba độc (tham sân si) hay vướng vào sinh tử niết bàn nữa, thì người ấy cũng sẽ an trú trong Tâm Phật bất sinh. Khi ấy, lúc các yếu tố làm nên thân xác của mình đã đến thời tan rã, họ cứ để cho nó tan rã, và chết không chút lưu luyến. Đây là một con người mà đối với họ sinh tử là niết bàn chân thật, một con người tự tại trước sống chết.

Bản lai diện mục

Cái được gọi là bản lai diện mục cũng không khác gì Tâm Phật bất sinh. Cái mà bạn thừa hưởng của cha mẹ từ lúc mới sinh chỉ là Tâm Phật, không gì khác. Đây là từ ngữ mà một bậc thầy ngày xưa đã đặt ra cốt làm cho người học nhận ra rằng Tâm Phật bất sinh chính là mặt mũi nguyên ủy của mình, hay bản lai diện mục. Ngay danh từ cha hay mẹ cũng là những gì đặt cho cái đã sinh ra. Con người thực chứng được Tâm Phật thì ở tận ngọn nguồn của cha và mẹ, đó là lý do ta nói đến một cái “hiện hữu trước cả khi cha và mẹ ra đời”. Cái đó không gì khác hơn là cái Bất sinh; bởi thế Tâm Phật cũng chính là Bản lai diện mục của bạn…

Nước và băng

Vì cái Tâm Phật mỗi người sinh ra đã có, vốn không do tạo tác mà thành, nên nó không chứa đựng một chút mê lầm nào. Bởi thế, người nào bảo “tôi mê lầm, vì tôi là một con người không được giác ngộ” là một người con hết sức bất hiếu vì đã phỉ báng cha mẹ mình. Về cái Tâm Phật mà mỗi người có sẵn từ lúc cha mẹ mới sinh, thì chư Phật quá khứ và những con người hiện tại đều có cùng bản chất, không gì khác nhau. Việc ấy cũng như nước ở đại dương: Giữa mùa đông, nước đông lại thành băng giá nên có những hình thù khác nhau như vuông tròn, nhưng khi băng tan, thì tất cả chỉ là một thứ nước biển.
Khi bạn ngộ được bản chất bất sinh của Tâm Phật, thì đó chính là nước như xưa nay nó vẫn là, và bạn có thể tha hồ thọc tay vào đó. (Nghĩa là, khi cái tâm trở về nguyên trạng của nó – như băng trở lại thành nước – thì nó trở nên lưu nhuận, trong suốt, không gì ngăn bít dòng chảy tự do của nó)

Chấm dứt tư tưởng

Vì trong Tâm Phật bất sinh chiếu sáng kỳ diệu ấy vốn không có một chút thiên kiếnnào, nên nó tha hồ thích ứng, mỗi khi gặp cảnh là những tư tưởng lại ló ra. Nếu bạn không quan tâm đến chúng thì không sao cả; nhưng nếu bạn vướng vào chúng và tiếp tục triển khai, những ý tưởng ấy thì bạn không thể dừng lại. Khi ấy bạn làm mờ cái công năng chiếu diệu của tâm Phật và tạo nên si mê lầm lạc. Trái lại, vì từ khởi thủy, Tâm Phật vẫn chiếu sáng kỳ diệu, sẵn sàng soi sáng và phân biệt mọi thứ, nên khi bạn căm ghét những ý tưởng si mê đã khởi lên ấy, và cố ngăn chặn chúng, thì bạn bị vướng vào công việc ngăn chặn, tạo ra mâu thuẫn giữa người ngăn chặn và cái bị ngăn chặn (năng – sở). Nếu bạn cố dùng ý tưởng để ngăn ý tưởng, thì sẽ không bao giờ đi đến cùng tận. Việc ấy cũng như dùng máu rửa máu, dù bạn tẩy được lớp máu trước, vẫn còn lại lớp máu sau.

Gương sáng

Vì tâm Phật vốn bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu, nên nó ngàn vạn lần sáng hơn một tấm gương, không có cái gì mà tâm ấy không nhận ra và không phân biệt được. Với một mặt gương, hình thể của vật nào vừa đi qua trước mặt thì liền có bóng hiện ra. Gương không có ý định nhận vào hay bỏ ra vật gì, cũng không định phản chiếu hay không phản chiếu một cái bóng nào. Đấy là công năng của gương sáng. Vì không có ví dụ nào tốt hơn nên chúng ta đành phải mượn tấm gương để ví với diệu dụng chiếu sáng của Tâm Phật, kỳ thực Tâm Phật còn ngàn vạn lần kỳ diệu hơn thế nữa.
Với công năng chiếu sáng kỳ diệu của tâm Phật, mọi đối tượng xuất hiện trước mắt bạn đều được nhận ra và phân biệt rành rẽ, bạn không cần phải làm bất cứ gì. Bởi thế mặc dù không cố ý, bạn vẫn nhận ra trăm ngàn ấn tượng khác nhau qua hình sắc hoặc âm thanh. Đấy là những vật thể có hình dáng. Nhưng ngay cả những thứ vô hình, như những gì xảy ra trong tâm người, cũng được phản chiếu rõ ràng. Dù bạn gặp nhiều gương mặt khác nhau đủ loại, những tư tưởng thiện hay ác của họ đều được phản chiếu nhờ tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu. Ví dụ trong chúng hội đang nghe pháp tại đây, nếu có người ho lên, thì mặc dù bạn không cố ý lắng nghe, mà vừa khi có tiếng ho, bạn có thể phân biệt ngay tiếng ho ấy là của đàn ông hay đàn bà, già hay trẻ. Hoặc lấy ví dụ một người bạn đã hai mươi năm không gặp, nay tình cờ gặp lại trên đường, tự nhiên những biến cố thuộc hai mươi năm trước tuôn dậy rõ ràng trong ý thức. Việc này thật khác xa công năng của tấm gương!
Cái sự bạn nhận ra và phân biệt được ngay lập tức, một cách tự nhiên bất cứ gì bạn thấy và nghe, chính là công năng linh hoạt của tâm Phật mà bạn có được một cách bẩm sinh từ lúc mới lọt lòng, cái tâm Phật bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu.
Một ví dụ khác về công năng bẩm sinh của tâm Phật là: khi bạn đang ngồi yên bỗng có ai dí vào tay một đóm lửa thì bạn giật mình, và tự động rụt tay lại. Điều này cũng chứng tỏ cái tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu vốn bất sinh và dàn xếp một cách toàn hảo mọi sự.
Ngược lại, khi bạn nghĩ “vừa rồi là một đóm lửa” rồi nhận ra “lửa nóng” và tức giận kẻ nào đã đốt bạn, thì chính bạn đã rơi vào lãnh vực của kinh nghiệm phụ thuộc sau khi sự kiện đã xảy ra.

Không có gì gọi là giác ngộ

Một vị tăng từ Sendai đến bảo: Tôi nhớ đâu đó có một thành ngữ rằng: “Tâm bị lụy vì hình hài.” Tôi mong sống hợp với tâm nguyên thủy vào mọi thời, nhưng làm sao tu tập để được như thế? Xin Ngài chỉ giáo cho.
Sư dạy: Trong tông phái tôi, không có hình thức chỉ giáo nào đặc biệt về pháp tu, cũng không có phương pháp đặc biệt nào. Vì người ta không nhận ra rằng ngay trong chính mình đã sẵn đủ cái tâm Phật mà họ có từ thuở sơ sinh, nên họ mất hết tự do giải thoát và nói về chuyện muốn sống hợp với tâm nguyên thủy. Khi bạn ngộ được rằng tâm Phật bạn có từ cha mẹ sinh, vốn bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu, thì tay chân bạn vận hành thoải mái, và đấy là công năng của tâm Phật chiếu sáng vốn bất sinh. Bằng chứng là, vì muốn nghe Bankei, bạn đã từ Sendai lặn lội đến đây qua một đoạn đường dài. Nhưng khi bạn dừng chỗ này chỗ kia dọc đường để nghỉ, thì không phải lúc nào bạn cũng nghĩ đến Bankei. Ban ngày, bạn ngắm phong cảnh trên đường, và nếu có người cùng đi, bạn nói chuyện với họ. Mặc dù trong lúc đi, bạn không nghĩ gì về cuộc gặp gỡ với tôi, cuối cùng bạn vẫn đến chỗ tôi. Đây là ý nghĩa về tâm Phật vốn bất sinh và dàn xếp mọi sự một cách êm đẹp.
Lại nữa, ở Sendai bạn thấy những con cò màu trắng và những con quạ màu đen không cần ai nhuộm. Ở đây cũng vậy, mặc dù không cố ý phân biệt, vừa khi thấy chúng xuất hiện, bạn biết ngay con trắng là cò và con đen là quạ. Không cần dấy lên ý tưởng nào, tất cả điều đó được dàn xếp một cách trơn tru phải thế không?
Khi ấy vị tăng hỏi: Tôi thấy không thể nào kiểm soát tất cả những sân si dục vọng trong tôi. Tôi phải làm sao, xin Ngài chỉ giáo.
Sư trả lời: Cái ý tưởng muốn kiểm soát của bạn chính là một vọng tưởng, đổi tâm Phật thành ra vọng tưởng. Vọng tưởng vốn không có thực chất khi nó sinh khởi. Sự thật chúng chỉ là những cái bóng, những sự việc bạn đã thấy và nghe khi gặp cơ hội lại trồi lên.
Vị tăng lại hỏi: Giác ngộ là gì?
Sư trả lời: Không có điều gì gọi là giác ngộ, đấy hoàn toàn là một đeo đuổi vô ích. Hãy nhận ra một cách rốt ráo rằng tâm Phật mà bạn có từ cha mẹ vốn bất sinh và chiếu sáng kỳ diệu – đó chính là giác ngộ. Không nhận ra điều này là si mê. Vì tâm Phật nguyên ủy vốn bất sinh, nên nó vận hành không có những ý tưởng về si mê hay mong cầu giác ngộ. Vừa khi có ước muốn giác ngộ là bạn đã rời khỏi vị trí của Bất sinh và đi ngược lại với nó. Vì tâm Phật là bất sinh, nó tuyệt nhiên không có tư tưởng gì cả. Tư tưởng là nguồn gốc của vô minh. Khi hết tư tưởng thì vô minh cũng diệt. Và khi bạn đã hết vô minh thì không cần gì nói đến mong muốn đạt giác ngộ, phải vậy không?

An trú trong tâm Phật

Một vị tăng hỏi: Con thường đọc kinh và tọa thiền, vì con cảm thấy những việc này có công đức. Bây giờ con có nên dẹp hết vì vô ích chăng?
Sư trả lời: Tọa thiền và xem kinh là việc tốt. Tọa thiền là việc mà tất cả tu sĩ muốn uống nước từ nguồn Thích Ca đều phải thực hành không được coi khinh. Mặc dù tất cả những pháp này thay đổi tùy hoàn cảnh khác nhau và tùy cách dạy của mỗi bậc thầy, song tất cả đều liên hệ đến việc bạn phải tự mình thực chứng cái tâm Phật bất sinh. Khi bạn không lầm tiếng chuông với tiếng trống, tiếng chim sẻ với tiếng chim quạ, tất cả những âm thanh nghe qua, bạn đều nhận ra và phân biệt từng thứ một, không sót tiếng nào. Đấy chính là cái tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu đang lắng nghe. Những gì nói trong Lâm tế ngữ lục và những gì tôi nói chỉ là một thứ không có gì khác nhau. Vấn đề duy nhất là bạn có đức tin hay không. Nếu bạn không thể an trú trong tâm Phật bất sinh mà khuấy động lên đủ thứ tư tưởng như nuối tiếc quá khứ, lo lắng về tương lai, thì chính là bạn đang xoay vần biến hóa trong sinh tử mà không tự biết. Bạn đã đổi tâm Phật thành ra những tư tưởng phù du, không bao giờ có một giây phút an ổn.
Bây giờ bạn có thể tọa thiền đọc kinh, nhưng hãy an trú trong tâm Phật mà bạn có, và thực chứng cái bất sinh. Nếu bạn tọa thiền hay đọc kinh, với mục đích hay hy vọng tích lũy công đức, thì thế là bạn đổi tâm Phật lấy công đức, đổi tâm Phật lấy tọa thiền và tụng kinh! Thế đấy, nên điều bạn cần làm là nhận ra với niềm tin tưởng sâu xa rằng, mọi sự tự nó được nhận chân và được phân biệt mà không cần bạn phải để tâm suy nghĩ. Tất cả là vì tâm Phật chiếu sáng kỳ diệu vốn bất sinh, và thu xếp mọi sự một cách trôi chảy.

Khi tư tưởng khởi lên

Một chú tiểu hỏi: Khi con tọa thiền, tư tưởng lại khởi lên. Con phải làm sao?
Sư dạy: Phân biệt được và nhận ra được từng ý nghĩ khởi lên, đấy chính là công năng linh hoạt của tâm Phật. Vì tâm Phật vốn bất sinh mà cũng chiếu sáng kỳ diệu nữa, nên bất cứ gì được lưu giữ trong tâm con bây giờ trồi lên. Trong tâm Phật không có một tư tưởng hay một vật gì, bởi thế khi con không để mình vương vấn với chúng, tức là đã phù hợp với tâm Phật bất sinh. Đừng lo cố xua đuổi chúng hay ngăn chặn chúng.

Tâm Phật sống động

Sư bảo đại chúng: Với một người thực chứng tâm Phật một cách rốt ráo vào mọi lúc, thì khi vị ấy đi ngủ, cũng đi ngủ với tâm Phật; khi dậy là dậy với tâm Phật; khi ở là ở với tâm Phật; khi đi là đi với tâm Phật; khi ngồi là ngồi với tâm Phật; khi đứng là đứng với tâm Phật; khi nói là nói với tâm Phật; khi im lặng là im lặng với tâm Phật; khi ăn cơm là ăn với tâm Phật; khi uống trà là uống với tâm Phật; khi mặc áo là mặc áo với tâm Phật. Vào mọi lúc, vị ấy an trú liên tục trong tâm Phật, không có lúc nào là vị ấy không ở trong tâm Phật. Vị ấy hành xử ung dung tùy theo hoàn cảnh, cứ để mọi sự theo cách tự nhiên của chúng. Chỉ cốt là không làm những điều ác mà chỉ làm những việc lành.
Nhưng nếu bạn tự hào về những việc lành của mình, bám víu vào đó và ghét cái xấu, thì thế là đi ngược với tâm Phật. Tâm Phật không thiện cũng không ác, mà vận hành vượt ngoài cả thiện ác. Đó không phải là tâm Phật sống động hay sao? Khi bạn đã ngộ được điều này không còn một chút nghi ngờ nào cả, thì ngay lúc ấy bạn sẽ mở được con mắt thấy suốt tâm người. Bởi thế mà tông phái của tôi được mệnh danh là tông Mắt Sáng.

Đàn áp cũng là mê muội

Một vị Tăng hỏi: Con nhận thấy không thể nào đàn áp tất cả phiền não vọng tưởng của con. Con phải làm sao?
Sư đáp: Cố mà đàn áp vọng tưởng thì cũng là mê muội. Vọng tưởng nguyên ủy vốn không hiện hữu, mà chỉ do chính bạn tạo ra vì phân biệt.
Một vị Tăng từ Sendai đến hỏi: Làm thế nào con có thể thực chứng cái tâm bản nhiên?
Sư đáp: Ngoài con người đang hỏi tôi lúc này ra, thì không có tâm bản nhiên nào. Cái tâm bản nhiên ấy siêu việt tư duy mà phân biệt rõ ràng mọi sự. Bằng cớ điều này là, nếu tôi hỏi bạn điều gì liên hệ đến nơi bạn ở, có phải là bạn trả lời vanh vách không cần suy nghĩ hay không.

Buông xả

Một cư sĩ nói: Vài năm về trước, tôi hỏi Ngài phải làm sao để ngăn vọng tưởng sinh khởi, và Ngài đã dạy tôi cứ để mặc chúng sinh diệt tùy ý. Tôi vẫn làm theo lời khuyên của Ngài, nhưng tôi lại thấy thật khó mà cứ để cho những vọng tưởng cứ khởi và diệt như vậy.
Sư bảo: Lý do bạn gặp khó khăn là vì bạn tưởng rằng có một phương pháp đặc biệt nào để phó mặc cho ý tưởng cứ khởi và diệt.

Như bạn vốn là

Sư bảo đại chúng: Tất cả quý vị nên nhận ra cái tâm Phật vận hành sống động này! Từ nhiều trăm năm nay người học Phật đã hiểu lầm giáo lý Thiền, cố đạt giác ngộ bằng cách tọa thiền hoặc cố tìm cho ra “con người thấy và nghe”, tất cả điều này là một sai lầm lớn. Tọa thiền chỉ là một tên khác của tâm bản lai, nó có nghĩa là ngồi an tịnh với một cái tâm an tịnh. Khi ngồi thiền bạn chỉ cần ngồi như bạn vẫn ngồi; khi bạn thiền hành, thì bạn cứ tản bộ như bạn vẫn đi. Dù cho miệng của bạn rộng lớn đủ để nuốt trọng cả trời đất, cũng không thể nào diễn tả Phật Pháp bằng lời. Những người nói về Phật Pháp, phần đông chỉ làm cho người ta lòa mắt.
Trong cái “tâm” mà bạn thừa hưởng của Cha Mẹ từ lúc mới sinh, không có một chút mê lầm nào cả. Bởi thế, khi bạn quả quyết rằng “tôi mê mờ vì tôi là một người sinh ra đã ngu dốt” thì thế là bạn đổ lỗi cho cha mẹ mình một cách bất công. Chư Phật trong quá khứ với con người trong hiện tại đều có đồng một tâm Phật duy nhất ấy, không có khác gì nhau. Tôi sẽ lấy một ví dụ cho bạn hiểu: khi nước biển múc lên đổ vào những bình chứa khác nhau, và gặp thời tiết nước đông lại, thì tùy theo những bình chứa lớn nhỏ vuông tròn khác nhau mà nước đông thành đá sẽ có những hình dạng khác nhau; nhưng khi băng tan thì tất cả nước trở lại đồng là nước của biển cả. Vì không biết tâm Phật vận hành sống động như thế, nên bạn nghĩ bạn sẽ thành Phật nhờ tích lũy quả báo tu hành và giác ngộ. Bị rơi vào mê lầm, đi từ bóng tối vào trong bóng tối, thật là bi đát phải không? Tôi không giảng dạy về Phật giáo, nhưng khi nói chuyện tôi chỉ xử lý những ý tưởng sai lầm nơi các bạn.

Không một dấu vết

Một khách tăng hỏi: Con tu hành với mục đích là đạt giác ngộ. Ngài nghĩ sao về vấn đề này?
Sư dạy: Giác ngộ chỉ có khi có si mê. Nhưng mọi người đều có bản chất giác ngộ, nên một chút mê lầm cũng không hiện hữu. Thế thì bạn cần phải đạt đến cái gì?
Vị Tăng nói: Điều ấy tôi nghe thật điên rồ. Chính nhờ đạt giác ngộ mà tất cả thánh hiền xưa kể từ sơ tổ Bồ đề đạt ma, đã hoàn toàn chứng đắc về Pháp.
Sư bảo: Như Lai cứu độ hữu tình bằng cách “điên rồ” như thế đấy, không đến không đi, mà vẫn như tính bạn bẩm sinh, không để cho tâm trở nên mờ mịt – đấy chính là ý nghĩa của Như Lai. Và đấy cũng là đường lối chư Tổ trong quá khứ.

Bịt mắt

Một vị khách tăng hỏi : Tọa thiền có công đức gì không?
Sư nói: Tọa thiền là điều không nên coi thường, cũng không nên xem thường việc tụng kinh, lễ bái. Tổ Đức Sơn dùng gậy, Thiên Thai dùng tiếng hét, Đạt ma diện bích – Tất cả đều là những phương tiện của các bậc thầy, những phương pháp đối phó với những tình huống đặc biệt và đáp ứng những nhu cầu của từng cá nhân trong cuộc. Ngay từ đầu đã không có những quy luật cố định. Nếu bạn xem những phương tiện tạm thời ấy như những lời dạy bất di dịch, thì cũng như bạn tự bịt mắt mình. Chỉ cần vững tin vào lời tôi nói, giữ tâm hồn nhiên như lúc mới sinh không có những phân biệt phù phiếm, hệt như khi mọi vật phản chiếu trong gương, thì khi đó không có gì trên đời mà bạn không thâm nhập thông suốt. Đừng nghi ngờ!

Mọi sự đều được dàn xếp trơn tru

Một vị tăng từ Tamba đến hỏi: ước nguyện chân thành của con trong dịp này là chứng được giác ngộ và trở thành một con người toàn hảo về mọi mặt. Xin Ngài chỉ giáo cho con.
Sư nói: Bạn đã lặn lội từ xa đến và có những ước nguyện đáng khen, nhưng chúng toàn là vọng tưởng. Trong cái tâm nguyên ủy, không có vọng tưởng cũng không có ước nguyện. Trong cái công năng chiếu sáng kỳ diệu nội tâm, không hề có một ước nguyện nào cả, thế mà mọi sự vẫn được dàn xếp trơn tru. Ngay cả cái việc muốn thành Phật liền bây giờ cũng là một điều giả tạo. Chỉ cần nhận thức rằng mình đang tạo những ước nguyện, rồi cứ sống tự nhiên, đừng vướng mắc bất cứ sự gì, thì bản lai diện mục của bạn sẽ được hiển lộ.

Đi đâu

Một cư sĩ hỏi: Khi thành Phật rồi, ta sẽ đi đâu?
Sư trả lời: Nếu bạn thành Phật, không có nơi nào để đi cả. Khi đó bạn ở khắp cả tam thiên đại thiên thế giới. Chỉ khi bạn trở thành loại chúng sinh nào khác thì mới có nhiều chỗ khác nhau để đi.

Trái banh bằng vàng

Có lần Sư bảo : Không giống như những bậc thầy khác ở khắp nơi, trong giáo lý tôi, tôi không lập ra một mục tiêu đặc biệt nào như chứng đắc giác ngộ hay tham cứu công án. Tôi cũng không dựa vào lời Phật và tổ. Tôi chỉ thẳng vào sự việc, nên không có gì để bám lấy, và cũng vì vậy không có người nào sẵn sàng chấp nhận những gì tôi giảng dạy. Trước hết, những người thông minh và đa văn thì bị chướng ngại bởi chính sự thông minh tính toán của họ, nên họ không thể chấp nhận lời tôi. Ngược lại, có rất nhiều phụ nữ ngu dốt không biết đọc biết viết, lại không có tài năng đặc biệt nào, và cũng không thể đẩy họ lên làm thiền sư. Nhưng họ có được thực chứng và không vướng vào tri thức.
Sư lại thêm : Mặc dù vậy, dù không có ai chấp nhận hoàn toàn, giáo lý tôi giống như một trái banh bằng vàng bị đập vỡ ra nhiều mảnh tung tóe khắp nơi, để cho ai được một mảnh thì sẽ có được một mảnh giác ngộ, ai được hai mảnh thì sẽ có được hai mảnh giác ngộ…, từng mảnh nhỏ, nhưng không ai là không lợi lạc tùy theo chỗ chứng đắc của mình.

Nghi lớn

Một vị Tăng hỏi: Người xưa tuyên bố nghi lớn ngộ lớn (đại nghi đại ngộ). Tại sao Ngài không sử dụng cái nghi lớn của các bậc Thầy xưa?
Sư đáp: Về ý nghĩa của nghi lớn là như sau: ngày xưa khi Nam Nhạc Hoài Nhượng đến thăm Lục tổ, tổ hỏi, vật gì đến đó? Nam Nhạc hoàn toàn bối rối, thắc mắc về vấn đề này đến 8 năm, và cuối cùng đã trả lời: nói là một vật thì không trúng. Đây mới thực sự là đại nghi đại ngộ. Ví dụ khi một vị tăng mất chiếc y ca sa độc nhất, ông ta đi tìm khắp nơi không lúc nào không nghĩ đến nó – đấy là nghi thực sự! Người ngày ngày cứ khơi lên hoài nghi chỉ vì họ bảo những bậc thầy ngày xưa cũng làm như vậy; bởi thế họ chỉ phát sinh được một thứ hoài nghi bắt chước. Vì sự hoài nghi này không chân thật, nên họ sẽ không có ngày nào ngộ. Việc ấy cũng như thể là họ đi tìm khắp nơi tưởng mình mất một cái gì mà thực sự chưa từng bị mất.

Khác nhau trời vực

Vào một dịp khác, Sư bảo: Về cái chân lý mà tôi đã tìm ra năm tôi 26 tuổi khi nhập thất trong làng Nonaka – chân lý mà tôi đã tìm đến thiền sư Dosha để được ấn chứng – cái thấy lúc ấy với bây giờ không có chút gì khác nhau. Tuy nhiên, nói về sự thâm nhập Phật pháp với pháp nhãn hoàn toàn trong sáng và giải thoát tuyệt đối, thì từ ngày tôi gặp Dosha đến nay thực khác nhau một trời một vực. Tất cả quý vị hãy tin rằng điều này có thể xảy ra, và hãy đợi đến cái ngày quý vị hoàn toàn chứng được pháp nhãn.
Có người hỏi: Có phải pháp nhãn hoàn toàn trong sáng cần phải có thời gian mới chứng được? Người ta chứng pháp nhãn ngay lập tức có được không?
Sư trả lời: Đương nhiên là cần một số lượng thời gian. Khi đã phát sinh con mắt Pháp trong suốt không chút tì vết (pháp nhãn ly trần vô cấu) là bạn đã chứng ngộ một cách toàn vẹn. Và việc chứng ngộ của bạn tùy thuộc vào sự tu tập một cách nghiêm túc và nhất tâm.

Hãy coi chừng nơi bạn đi

Khi tôi (tức Sonin đệ tử thừa kế của Bankei) mới gặp Sư lần đầu, tôi thọ giáo với Ngài nhưng vì không có được sự thấu hiểu sâu xa, tôi đã nói: Những gì thầy dạy là cảnh giới của bậc thầy. Nhưng với một kẻ như con chưa từng chứng ngộ, con nghĩ rằng thật khó mà với tới cảnh giới bậc thầy.
Sư đã bảo tôi: Nếu ông muốn chân lý, ông phải làm như tôi nói. Những người học đạo trước hết phải cẩn thận xem chừng mình đang đi ở đâu. Ví dụ, nếu một người muốn đi Edo và được người ta chỉ cho phải đi về phía đông. Nếu anh ta đi đúng hướng thì cứ mỗi dặm đường là tiến gần đến đích một dặm; nhưng nếu anh ta lầm đi sang phía tây, thì càng đi nhanh càng xa với mục tiêu của mình. Có lần tôi hỏi Sư: Trong việc học đạo, có cần đọc kinh Phật và ngữ lục của các vị tổ không?
Sư trả lời: Cũng còn tùy. Nếu ông đọc kinh điển và ngữ lục mà ông hoàn toàn lệ thuộc vào những nguyên tắc trong đó, tức là ông tự bịt mắt mình lại. Ngược lại, khi ông đủ trình độ để bất chấp nguyên tắc mà đọc những thứ ấy, thì ông sẽ tìm ra bằng cứ cho sự chứng ngộ của mình.
Một lần tôi hỏi Sư: Con luôn luôn bị khổ vì những thói quen xấu. Con có thể chấm dứt chúng bằng cách luôn luôn đề phòng hay không?
Sư hỏi: Nếu ông nhận ra rằng từ khởi thủy, không có thói quen xấu, thì có gì để chấm dứt?
Tôi trả lời: Con công nhận rằng khởi thủy không có thói quen xấu, con không nghi ngờ gì về điều ấy. Nhưng thỉnh thoảng những thói quen xấu của con lại xuất hiện, và khi con đề phòng chúng thì chúng không xuất hiện. Bởi thế mặc dù con hoàn toàn công nhận sự thật là, từ đầu thói xấu không hiện hữu, nhưng riêng về chuyện tu hành hằng ngày của con, thì có phải tốt nhất nên đề phòng?
Sư nói: Đó không phải là chân thật công nhận.
Bây giờ từ khi khắc cốt ghi tâm những lời dạy từ bi của bậc thầy, tôi đã thực chứng một cách rốt ráo thực tướng của chân lý. Vào một dịp khác tôi hỏi: Từ lúc mới sinh, con đã bị những cơn đau thắt ghê gớm trong bụng, mỗi lần như vậy con phải hoàn toàn nhịn ăn trong nhiều ngày, bị nhức đầu kinh khủng và cảm thấy đau đớn tới độ muốn đưa tay lên mà sửa cái gối cũng không thể được. Bình thường khi đang khỏe thì con hết sức dũng mãnh tinh tấn, sẵn sàng vì Pháp mà hy sinh mạng sống và tay chân. Nhưng vào những lúc cơn đau vừa nổi lên, là con hoàn toàn bất lực. Khi cơn đau đến tột đỉnh thì con yếu hơn bao giờ cả. Dường như là tinh thần dũng mãnh thường lệ của con bị ngọn gió bệnh làm cho điêu đứng. Con vô cùng buồn khổ vì chuyện này.
Sư hỏi: Một khi ông lành mạnh trở lại thì thế nào? Tôi trả lời: Khi con mạnh trở lại thì mọi sự lại trở lại như thường.
Sư bảo: Thế thì tốt. Từ đấy về sau vào mọi lúc, tôi luôn luôn giống như bây giờ, vượt ngoài phân biệt, hoàn toàn tự do thoải mái, không một chút gắng gượng.
Một lần tôi hỏi Sư: Con đã theo thầy khá lâu, và được may mắn hầu cận bên thầy trong nhiều năm làm thị giả. Về những điều cốt yếu trong giáo lý thầy, con không có một chút hoài nghi nào cả. Tuy nhiên điều con nhận thấy tuyệt vời khi gần Ngài là: Con càng vào sâu, thầy càng trở nên rắn chắc, con càng ngước lên cao mà nhìn, thì thầy càng bay cao hơn. Bởi thế con vô cùng thán phục. Thầy đáp ứng những nhu cầu của người học một cách lưu loát vô giới hạn đến nỗi trải qua bao nhiêu ngày tháng cũng không ai địch nổi. Làm sao chúng con cũng có thể đạt đến sự toàn hảo ấy?
Sư bảo: Những thiền sinh thường trong 10 điều có thể nắm được 7, 8 điều, nhưng không thể vượt qua được 2 hay 3 điều còn lại. Tôi nói: Có cách nào để vượt qua không?
Sư đáp: Không cách nào để vượt qua. Tôi hỏi: Lỗi nằm ở đâu?
Sư im lặng một lúc rồi trả lời: Nói cho cùng, thì chính là vì lòng khát khao đạt đến chân lý còn yếu.

Đối xử với kẻ hư

Khi Sư nhập thất ở chùa Jizoji, vị tăng tri sự ở chùa Long môn phái tăng sĩ Tenkyu đến vấn an Ngài và trình bày: Tại chùa Long môn có một số tăng bê trễ phận sự, hành vi thô tháo, xáo trộn quy củ thiền môn. Chúng con nghĩ nên gởi họ đi đến các chùa khác họa may họ có thay đổi. Kính mong được tôn ý của Ngài.
Khi Tenkyu nói xong, Sư triệu tập Shùin, Sokako và Shonin. Ngài nhắc lại cho họ nghe những lời Tenkyu vừa nói, và bảo: Một thiền viện được lập ra cốt là để quy tụ những bọn xấu xa như bọn ấy, chinh phục chúng bằng sự tiếp xúc thân mật để làm chúng trở thành người tốt. Thế mà các ông hoàn toàn thiếu từ bi, các ông muốn tẩy những bọn tội phạm đi nơi khác để cho chúng đi gây rối chỗ khác! Một người như thế có xứng đáng làm trụ trì một thiền viện không? Khi một người không có tâm từ bi quảng đại mà làm trụ trì chùa tôi, đó là bắt đầu thời suy tàn của giáo lý tôi dạy.
Sau lần quở trách nghiêm khắc ấy, tất cả mọi người gồm trụ trì, chức sự trong chùa cũng như các thị giả không ai còn dám phàn nàn gì với Sư về hành vi các tu sĩ.

Không quy luật

Vào một kỳ đại kiết thất ở chùa Long môn, có trên mười ngàn người tham dự. Mọi người bảo: “Trong kỳ hội này, chắc người ta sẽ phải lập ra những quy luật sách tấn mọi người khiến cho toàn thể phải sợ run!” Nhưng sau đó chẳng có một bản quy luật nào được đặt ra, mà mọi người vẫn an tịnh.
Thỉnh thoảng Sư thăng pháp tòa bảo đại chúng: “Cái bất sinh có từ khởi thủy – tất cả mọi người hãy bảo đảm là quý vị không làm nó ẩn mất trong quý vị! Cái bất sinh ấy giống như một quả bóng lớn bằng lửa: động vào nó bạn sẽ bị đốt cháy. Tôi có thể nói với quý vị về nó ngay bây giờ, nhưng nói không hết lời; tôi có thể sử dụng nó, nhưng dùng không bao giờ hết. Với tôi, muốn sách tấn người khác mà la lối um sùm khiến cho họ sợ hãi phải tuân hành, thì chỉ là một sự lừa dối vô ích. Không bao giờ nên làm vậy.” Khi những người trong chúng hội nghe điều này, tất cả hoài nghi của họ điều tiêu tan.

Như ông bây giờ

Khi Sư ở chùa Nyoroshi, Ngài dạy chúng: Tất cả các ông quả thật may mắn đã gặp được bậc thầy! Không cần phải đi mòn dép cỏ, phí sức theo đuổi hoa đốm giữa hư không, hay dấn mình vào những khổ hạnh đau đớn, các ông vẫn có thể đi thẳng vào chánh giáo. Thật là may mắn! Đừng phí thì giờ! Một vị tăng hiện diện nói: Duy chỉ có điều này. Ví dụ một người muốn qua sông để ra khỏi thành phố, mà nếu không dùng một con thuyền, cũng không đi một bước nào, thì anh ta sẽ không bao giờ đạt đến đâu cả.
Sư nói: Cũng như ông đang ở đây lúc này, phải không? Không có cái sự đi đến đâu hay không đi đến đâu. Đây là ý nghĩa đốn giáo. Bạn do dự thì nó tuột mất; chần chờ thì nó càng ngày càng xa.

Phương pháp tự nhiên của Bankei

Trong một kỳ kiết thất, có trên một ngàn ba trăm người tham dự, chưa kể tăng và tục từ ngoài đến chùa hàng ngày để nghe pháp. Những ngưòi tham dự chia nhau ở trong các phòng, nơi thì tọa thiền, nơi thì đọc tụng. Không cần lập ra quy luật, mỗi người theo đuổi hoạt động của mình một cách tự nhiên, tu tập một cách tinh cần và lặng lẽ đến nỗi dường như không có ai ở trong phòng.
Ngày nay, các thiền viện khắp nơi quy tụ năm ba trăm tu sĩ, đặt ra thời gian biểu cho đến từng phút, hạn chế khu vực lui tới, gần như trói tay chân người ta không khác gì ở tù. Nếu có ai phạm dù một lỗi nhỏ cũng bị đánh và ném ra khỏi chùa không bao giờ tha thứ. Sự rình rập và độc ác còn tồi tệ hơn những viên chức nhà nước! Mỗi khi xong các kỳ thất, có nhiều người ngã bệnh, nhiều người khác hoàn toàn suy kiệt. Thế là những mầm non chưa ra đã bị nổ tung, khiến cho cha mẹ và thầy đâm chán.
Đấy là hành động của những người tự xưng chuyên môn dạy thiền ngày nay. Than ôi! Những ông thầy theo phong trào ấy không thể vượt trên đám đông tầm thường, thật đáng thương. Người xưa dựng ra tấm ngăn là cái chết, mở ra cái hố để chôn sống những người học đạo thiền (1). Tất cả những điều này ngày xưa được làm là nhắm một mục tiêu đặc biệt, nhưng ngày nay người ta bắt chước một cách mù quáng, với hy vọng sai lầm là sẽ phát sinh cùng một hậu quả.

BA LẦN CẢNH CÁO KHI SẮP NHẬP NIẾT BÀN CỦA PHẬT THÍCH CA
PHẬT sắp nhập niết bàn, khai thị lần cuối cùng có ba lần cảnh cáo. Lúc bây giờ Đức
Thế Tôn từ sơ thiền đến nhị thiền, tam thiền cho đến nhập diệt tận định, rồi từ diệt tận
định trở ngược lại, cho đến sơ thiền. Thuận nghịch như vậy ra vào chín bậc thiền định
xong, nói với đại chúng rằng: “Ta dùng bát nhã thâm sâu, quán khắp tất cả lục đạo
trong tam giới, căn bản tánh lìa, cuối cùng tịch diệt, đồng với tướng hư không, vô
danh vô thức, tình chấp đoạn diệt, vốn là bình đẳng, chẳng cao chẳng thấp, chẳng thấy
chẳng nghe, chẳng tri chẳng giác, chẳng thể trói buộc, chẳng thể giải thoát, vô chúng
sanh, vô thọ mạng, chẳng sanh chẳng khởi, chẳng tận chẳng diệt, phi thế gian phi phi
thế gian, Niết Bàn sanh tử đều bất khả đắc, nhị tế (trước, sau) bình đẳng, các pháp
bằng nhau việc làm đồng như chẳng làm, cứu cánh yên tịnh. Từ pháp vô trụ, hành
theo pháp tánh, dứt tất cả tướng, chẳng có một vật, pháp tướng như thế đều bất khả
đắc. Những kẻ biết được gọi là người xuất thế gian, việc này chẳng biết gọi là sanh tử
bắt đầu, các người cần phải đoạn dứt vô minh, diệt sự bắt đầu của sanh tử”.
Lần thứ nhì, cũng từ Sơ thiền cho đến Diệt tận định, rồi từ Diệt tận định trở ngược lại
cho đến Sơ thiền. Thuận nghịch ra vào chín bậc thiền định xong, lại nói với đại chúng
rằng: “Ta dùng Ma Ha Bát Nhã quán khắp hữu tình vô tình trong tam giới, tất cả
người và pháp đều là cứu cánh, chẳng có kẻ trói buộc, chẳng có người giải thoát, vô
trụ vô y (chẳng nơi nương tựa) chẳng thể nhiếp trì, chẳng vào tam giới, vốn là thanh
tịnh, chẳng cáu bẩn, chẳng phiền não, bằng với hư không, bất bình đẳng, phi bất bình
đẳng, tất cả tư tưởng động niệm trong tâm đều ngưng nghỉ, pháp tướng như thế gọi là
đại Niết Bàn, chơn thật thấy được pháp này gọi là giải thoát, phàm phu chẳng thấy gọi
là vô minh”.
Nói xong nhập Siêu thiền lần thứ ba, từ Sơ thiền cho đến Diệt tận định, rồi từ Diệt tận
định trở ngược lại cho đến Sơ thiền, lại nói với đại chúng rằng: “Ta dùng Phật nhãn
quán khắp tất cả các pháp trong tam giới, thực tế của vô minh tánh vốn giải thoát, tìm
khắp mười phương đều chẳng thể được. Vì căn bản của vô minh chẳng có, nên nhánh
lá của vô minh đều sẵn giải thoát, vì vô mình giải thoát nên lão tử đều được giải thoát.
Do nhân duyên này nay ta an trụ nơi Thường Tịch Diệt Quang (ánh sáng thường tịch
diệt) gọi là đại Niết Bàn”.
Lời cảnh cáo kể trên đều do lòng đại bi bất khả tư nghì của Phật, thuận nghịch nhập
siêu thiền rồi nói ra. Kẻ gặp được sự dạy bảo này, nên lấy xương mình làm bút, lột da
mình làm giấy, chích máu mình làm mực, viết ra để cạnh mình, chẳng nên giậy phút
tạm quên, chẳng nên sát na mất sự chiếu soi. Theo ba lần cảnh cáo cuối cùng của
Phật, quán tất cả pháp trong tam giới, nói bản tánh vô minh vốn là giải thoát, cho nên
khắp mười phương trong pháp giới, hoặc hữu tình, hoặc vô tình, hoặc hữu tánh, hoặc
vô tánh, núi sông, đất đai, cỏ cây, người, vật … Chẳng trong tam giới, chẳng ngoài
tam giới, chẳng theo sanh tử, chẳng trụ Niết Bàn, đều đồng nhất tâm của chơn như
diệu tánh. Nếu tín giải như vậy thì đốn ngộ được nhất thừa, chẳng còn lời bí mật nào
hơn ý chỉ này!
Hỏi: Theo tục đế thì thánh phàm khác nhau, phàm phu vọng chấp thấy nghe, ngoài
tâm kiến lập các pháp, bậc Thánh đã liễu ngộ nhất tâm, lại sao lại đồng thấy nghe như
phàm phu?
Đáp: Bậc Thánh dù có thấy nghe, nhưng chẳng có chấp trước, luôn luôn diễn đạt vạn
vật chẳng thật, đồng như huyễn hóa.  Như Kinh Đại Niết Bàn, Bồ Tát Ca Diếp bạch Phật rằng: Thế Tôn, nếu phiền não từ
điên đảo tưởng sanh ra, thì tất cả các bậc Thánh đều thật có điên đảo tưởng, mà tại sao
chẳng có phiền não, vậy nghĩa này là thế nào?
Phật hỏi: Tại sao nói bậc Thánh có điên đảo tưởng?
Ngài Ca Diếp nói: Thế Tôn, tất cả bậc Thánh thấy trâu cũng gọi là trâu, thấy ngựa
cũng gọi là ngựa, thấy nam nữ, lớn nhỏ, nhà cửa, xe cộ và khứ lai đều cũng vậy, thế là
điên đảo tưởng rồi!
Phật nói: Phàm phu có hai thứ tưởng, một là thế lưu bố tưởng (thế gian phổ biến lưu
hành), hai là trước tưởng (tư tưởng chấp thật). Bậc thánh chỉ có thể lưu bố tưởng,
chẳng có trước tưởng. Phàm phu vì sự cảm giác sai lầm, nơi thế lưu bố mà sanh ra
trước tưởng, bậc Thánh vì hay chiếu soi thật tướng; nơi thế lưu bố chẳng sanh trước
tưởng, nên phàm phu gọi là điên đảo tưởng; bậc Thánh dù biết nhưng chẳng gọi là
điên đảo tưởng. Lại cảnh vốn tự không, đâu cần phải phá hoại sắc tướng rồi mới là
không! Vì chơn tâm của bậc Thánh thường tự chiếu, chẳng nhờ nhân duyên mới sanh
khởi, phàm phu thì chấp trước tri kiến, có năng có sở.
Nên Triệu Luận nói: “Hễ có sở tri thì có sở bất tri, chơn tâm của bậc Thánh vô tri nên
vô sở bất tri, cái tri của bất tri mới được gọi là Nhất thiết tri”. Vậy Kinh nói: “chơn
tâm của bậc thánh vô tri, vô sở bất tri là đáng tin lắm. Cho nên bậc thánh nơi tâm
trống rỗng mà sự chiếu soi chẳng thiếu sót, suốt ngày tri mà chưa từng tri là vậy.
Cũng như nước trong thì thấy bóng, đâu có sanh tâm năng sở, cảnh và tâm đều không,
chẳng có cái tư tưởng giác tri”.
Trong kinh Lăng Già, Phật nói với Bồ Tát Đại Huệ rằng: “Cảnh thế gian như bóng
tượng trong gương, và cảnh giới chiêm bao, nhưng chẳng phải trước mắt của bậc
thánh không có cảnh thế gian. Phàm phu vì tư tưởng mê lầm nên đuổi theo cảnh chấp
thật, gọi là vô minh điên đảo, chẳng phải minh trí. Bậc Thánh thấy cảnh đồng như
phàm phu, mà chẳng có tâm niệm chấp trước, nên chẳng gọi là điên đảo”.
Giải thích rằng: Như thí dụ kể trên tỏ rõ cảnh chỉ có một, mà sự thấy có khác. Bậc
Thánh chẳng phải không thấy cảnh thế gian, mà khi thấy đồng như thấy mặt trăng
trong nước và bóng tượng trong gương vậy.
Hỏi: Sự thấy của phàm phu có năng thấy sở thấy, nên tâm và cảnh rõ ràng, vậy thì so
với sự thấy của bậc Thánh làm sao phân biệt?
Đáp: Sự thấy của bậc Thánh thì Có và Không đồng thời chiếu soi, trong ngoài chẳng
trụ, như tiếng dội trong hang, bóng hiện trong gương mà chẳng khởi tâm tác ý, sáng tỏ
nhiệm mầu, tịch mà thường chiếu, nên nói là thường ở trong chánh niệm, cũng gọi là
chánh tri. Kỳ thật, chẳng phải hữu niệm hữu tri, cũng chẳng phải vô niệm vô tri. Nếu
chỉ vô niệm thì tịch mà mất sự chiếu soi, nếu chỉ có chiếu soi thì chiếu mà mất sự
thường tịch, cả hai đều chẳng chánh. Chánh là ở chỗ Tịch và Chiếu đi song song với
nhau.
Trong HOÀN NGUYÊN TẬP nói: “Tự tánh khởi chiếu, chiếu soi tất cả, liễu liễu tri
mà vô sở tri, liễu liễu kiến mà vô năng kiến, trong ngoài sáng tỏ, cùng khắp pháp giới,
cũng gọi là vô chướng ngại, nhãn của Phật TỲ LÔ GIÁ NA, tràn khắp mười phương
chiếu soi tất cả quốc độ Phật” tức là nghĩa này vậy.
Lại nói: Tâm hay làm Phật, hay làm chúng sanh, hay làm thiên đàng, hay làm địa
ngục, hễ tâm có sai biệt thì muôn ngàn cảnh giới sanh khởi, hễ tâm bình đẳng thì pháp
giới trống rỗng yên tịnh. Tâm phàm thì tam độc nổi lên, tâm thánh thì lục thông tự tại,
tâm không thì nhất đạo trong sạnh, tâm hữu thì muôn cảnh tung hoành, như tiếng  vang trong hang, lời hùng dội tiếng mạnh, như gương soi tướng, hình lõm hiện bóng
co, thế thì biết vạn hạnh do tâm, tất cả tại ta. Bên trong hư thì bên ngoài chẳng thật,
bên ngoài tế thì bên trong chẳng thô, thiện nhân tất gặp thiện duyên, ác hạnh khó
tránh ác cảnh, sự vui của thiên đàng, sự khổ của địa ngục đều là tự tâm làm ra, chẳng
phải người khác lãnh thọ, chẳng do trời sanh, chẳng do đất mọc, chỉ tại nhất niệm ban
đầu của mình, nên có sự thăng trầm như thế.
Muốn được bên ngoài an hòa thì bên trong cần phải bình tĩnh, tâm không thì cảnh
tịch, niệm khởi thì pháp sanh, nước đục thì làn sóng đen tối, nước trong thì bóng trăng
sáng tỏ. Sự cần thiết của người tu hành đều chẳng ra ngoài những việc kể trên, gọi là
cửa ải của chúng diệu, cũng là quê nhà của vạn linh, căn bản của thâm trầm và nguồn
gốc của họa phước. Chỉ cần tự tâm luôn luôn được chánh niệm, đâu thể nghi ngờ cảnh
giới bên ngoài! Cho nên, hễ lìa được tội hạnh, phước hạnh, bất động hạnh của chúng
sanh, thì chẳng có quả báo khổ vui của tam giới, hễ lìa được kiến văn giác tri của
chúng sanh thì đâu có cảnh giới của ngũ uẩn, lục căn, lục trần và lục thức! Nên biết,
mê ngộ do thức, nhiễm tịnh do tâm, ấy cũng là mục tiêu của tiền triết hậu học, chỉ thị
của muôn ngàn Kinh Luận vậy.
Trong kinh Lăng Già có bài kệ rằng: “Tâm niệm như nắm đất, làm ra như chén bát
(chén bát dụ cho chúng sanh, nắm đất dụ cho tự tâm), mỗi thứ dụ khác nhau, tất cả do
tâm tạo”. Nếu nhất niệm chẳng sanh thì các duyên tự dứt, nên nói: “Nhất niệm tâm
chẳng sanh thì các duyên tự dứt, nên nói: “Nhất niệm tâm chẳng sanh, vạn pháp
không sai”. Hiện nay, hoặc tham sanh sợ chết; hoặc lo sống lo già; hoặc bỏ vọng bỏ
thân, tùy theo tư tưởng mà tạo tác, nghiệp quả xoay chuyển mãi không dừng. Nếu liễu
đạt sanh tử vô sanh, vọng tức vô vọng, một niệm tâm tịch, vạn lự (tất cả tâm và pháp)
đều tiêu. Vậy thì biết hễ tâm ngộ là xong, chẳng còn pháp nào hơn nữa. 

BÀI HỌC ĐẮT GIÁ TỪ CÂU CHUYỆN CHÓ NGAO TÂY TẠNG THÁCH ĐẤU CHÓ GIÀ TRỤI LÔNG

Những người có bản lĩnh thật sự, họ luôn luôn bảo trì một trạng thái bình tĩnh ôn hòa, giống như ông lão và “con chó già” của ông, chỉ là điềm đạm ung dung mà tồn tại.

Có một anh chàng dắt theo một con chó ngao Tây Tạng trị giá cả bạc triệu ra ngoài đi dạo. Anh ta hễ gặp ai cũng đều đem con chó ra khoe, lại còn huyênh hoang mà nói rằng: “Người không có bốn năm trăm cân sức lực thì không thể kéo nổi chú chó của tôi”.

Lúc này, anh chàng nhìn thấy một ông già bị hói đầu bên đường cùng với một con chó gần như đã rụng hết lông đang ngồi bên cạnh.

Con chó ngao Tây Tạng của anh ta hướng về phía con chó đó kêu sủa ầm ĩ, nhưng con chó già kia không thèm để ý đến nó.

Chàng trai cảm thấy không vui. Nói rằng: “Ông lão này! Con chó của ông lớn thế kia, là giống chó gì vậy? Hãy để hai con chó của chúng ta đấu với nhau thử xem? Nếu chó của ông thua hãy đưa cho tôi 500 đồng, còn nếu chó ngao Tây Tạng của tôi thua thì tôi sẽ đưa cho ông 2000 đồng”.

Ông lão nói: “Tôi đang lo lắng về thức ăn tháng sau của anh bạn già này đây! Nếu được thì hãy đánh cược lớn hơn một chút? Nếu chó của tôi thua, tôi sẽ đưa cho anh 5 vạn, còn nếu chó của anh thua thì anh hãy đưa cho tôi 3 vạn”.

Anh chàng cười lớn: “Con chó này của tôi là giống chó ngao Tây Tạng thuần chủng. Sau này, ông đừng có nói là tôi đã không nói cho ông biết trước. Được thôi!”.

Hai con chó giao tranh chưa được hai phút, chó ngao Tây Tạng kia đã bại trận, cũng không còn dám kêu sủa gì nữa.

Anh chàng thua mất 3 vạn đồng, vô cùng sầu não: “Ông này, con chó đó của ông là chó gì thế? Sao lại dũng mãnh thế kia?”

Ông lão vừa đếm tiền vừa nói: “Đến bây giờ tôi cũng không biết nó là chó gì nữa, trước khi chưa rụng lông thì gọi là sư tử!”.

Anh chàng nghe xong thì cười không được mà khóc cũng không xong!!!

Bất cứ lúc nào thì cũng đừng có khoe khoang, hãy giữ khiêm tốn! Khiêm tốn! Khiêm tốn hơn nữa!

Bạn khoe khoang cái gì, điều ấy nói rõ bạn đang thiếu nó

Bạn đã là sư tử rồi, thì đâu cần phải chứng minh làm gì nữa? Đâu cần phải khoe khoang làm gì nữa?

Con người sống ở trên đời, không phải là để so đo với người khác. Bản thân hãy sống sao cho có ý nghĩa nhất, và làm ra những cống hiến vĩ đại nhất.

(ST)

DUY TÂM QUYẾT

Lời Dịch Giả
PHẬT pháp là pháp bất nhị, tâm trí không thể đến được, nhưng người đời nay ưa thích đem tâm trí suy lường lời Phật Tổ, nên không đến được chỗ rốt ráo giải thoát.Chúng tôi góp nhặt những lời chân thật của Phật Tổ và Thánh Hiền để chứng tỏ.“TÂM NGÔN LỘ TUYỆT”.                                                                                                                                             THÍCH DUY LỰC
DUY TÂM QUYẾT     
 (Đại Tạng)
    Nói đến chữ tâm chẳng phải chơn, vọng, hữu, vô có thể phân biệt được ; chẳng phải văn tự. Lời nói có thể diễn tả được. Nhưng các bật thánh ca ngợi, các hiền triết giải thích, ngàn lối khác nhau, chỉ là tùy theo đương cơ mà giả lập phương tiện, cuối cùng đều quy về một pháp mà thôi.
    Nên kinh Bát Nhã nói Bất Nhị, Pháp Hoa nói Nhất thừa, Tư Ích nói Bình đẳng Như như, Hoa nghiêm nói Thuần chơn pháp giới, Viên Giác kiến lập tất cả, Lăng Nghiêm bao gồm Mười phương, Đại Tập Nhiễm tịnh dung thông, Bảo Tích Căn trần hòa hợp, Niết Bàn An nơi bí tạng, Tịnh Danh Đạo tràng khắp nơi… tất cả tống nhiếp bao gồm, tỏ hết sự và lý chẳng có thiếu sót. Cho nên một pháp ngàn tên, tùy duyên lập hiệu, người học đạo chớ nên mê lầm việc tùy sự lập danh, kẹt vào lời nói phương tiện mà cho chúng sanh là giả. Chư Phật là thật ! Nếu ngộ được nhất pháp thì vạn pháp viên thông, sự mắc kẹt của nhiều kiếp ngay đó tan rã, vô biên diệu nghĩa nhất thời đều không, thấu triệt nguồn gốc của tâm pháp, rõ hết phương tiện của chư phật, chẳng tốn mốt chút công lực, chẳng dời một bước mà du lịch hằng sa thế giới, không một Phật sát đạo tràng nào mà chẳng đến, không một pháp hội nào mà chẳng dự, không một tướng nào mà chẳng phải thật tướng, không một nhân nào mà chẳng phải viên nhân (cái nhân tròn đầy bao gồm tất cả tâm pháp), hằng sa Như Lai rõ ràng ngay trước mắt, mười phương phật pháp sáng tỏ trong bàn tay, núi sông cao thấp cùng chuyển căn bản pháp luân, hàm linh lớn nhỏ phổ hiện sắc thân Tam muội. Ở một chỗ mà mười phương cùng hiện giảng một âm mà pháp giới cùng nghe, nói huyền nói diệu mà chẳng hoại pháp thế gian, muôn ngàn biến hóa mà chưa dời chổ thật tế. Cùng tam thế chư phật nhất thời hành đạo, với mười loài chúng sanh đồng chứng Niết Bàn, đánh trống Phật pháp nơi cung ma, sấm xét Phật pháp nơi sứ tà, đi ngược mà tự thuận, nơi cương mà tự nhu, lên cao mà chẳng nguy, nước đầy mà chẳng tràn, ở yên trên đất tuyệt học, sâu vào nguồn gốc vô vi, nhập cửa huyền của chúng diệu, dạo cảnh giới của thật tướng.
      Chẳng một pháp vốn có, chẳng một pháp mới thành, diệt trung biên, tuyệt tiền hậu, ấn đồng dị (đồng và dị cùng trong một pháp ấn), nhất khứ lai. Muôn cảnh cùng quán, nhất tâm bình đẳng, tiếng Phật thường nghe, huệ quan thường chiếu, đây là Đại Tịch Tam Muội Kim Cang định môn Thánh phàm bằng nhau, cổ kim đều vậy. Như tánh ướt của giọt nước với biển cả vốn đồng, sự dung nạp của cái lổ nhỏ bằng hạt cải so với hư không chẳng khác, kẻ tin được  thì công siêu nhiều kiếp, kẻ ngộ được thì rõ trong sát na.
      Cái pháp môn của nhất tâm này thật là đại đạo chẳng có phương sở, tu tập bụi trần mà chẳng phải hợp, tan rã quốc độ mà chẳng phải phân (phân tán), hòa quang mà bất quần (chẳng phải nhiều chúng hợp lại), đồng trần mà chẳng nhiễm, siêu xuất mà chẳng lìa, dung hợp mà chẳng tụ, nuôi dưỡng Thánh phàm mà chẳng có hình tướng thật chất để thấy, kiến tạo pháp giới mà chẳng có tên họ để gọi, che khắp cỏ cây, phủ khắp kim cổ, cùng khắp hư không pháp giới, bầu trời chẳng thề che lấp bản thể , thường chiếu thường hiện, địa ngục chẳng thể ấn dấu ánh sáng, vô trụ  vô y, trần lao chẳng thể đổi cái tánh, phi thuần phi tạp, muôn pháp chẳng thể dấu cái chơn, vắng lặng mà âm thanh khắp nơi, vô tướng mà hình tượng đầy trời, dung hợp lẫn nhau mà cảnh vật muôn ngàn sai biệt, hình tướng sum la chỉ là một, chẳng tụ chẳng chia, chẳng vì việc hỏng mà mất bản thể, cũng đồng cũng khác, tùy duyên mà chẳng cần giữ tánh, tức tướng là tánh nên chẳng ngại kiến lập ; tức lý là sự nên chẳng ngại chơn thường. Dùng cái không của hữu đâu ngại đủ thứ sanh khởi ; dùng cái động của tịnh, đâu ngại muôn cảnh tịch lặng, nói một thì lớn nhỏ khác nhau, nói khác thì cao thấp đều bằng, nói có thì chơn lý tịch diệt, nói không thì sự dụng chẳng bỏ, dù sanh mà thường tịch, tướng thế gian trống rỗng, dù động mà thường trụ, muôn pháp chẳng dời, dù ẩn mà thường khởi, thích ứng tùy cơ. Chẳng giả mà ảo tưởng hòa hợp, chẳng thật mà chơn tánh trạm nhiên, chẳng thành mà đủ loại cùng sáng, chẳng hoại mà các duyên tự diệt. Cảnh dù hiện mà chẳng có tánh hiện, trí dù chiếu mà chẳng có công chiếu, tịch mà dụng chẳng khác, năng và sở chỉ một. Đồng như gương sáng mà vạn tượng chẳng giấu mình, tánh như hư không mà tướng chẳng rời bản thể, làm tạng thường trụ, là cửa biến thông, trạm nhiên kiên cố mà thường tùy vật biến hóa, lăng xăng tạo tác mà chẳng động được chơn như, thân nam ẩn, thân nữ hiện, phương Đông nhập, phương Tây xuất, đang còn mà thường diệt, đang nắm mà thương buông, phổ biến mà ánh sáng chẳng động, khắp nơi mà một vật chẳng có, một hạt buội gồm vô biên quốc độ, một niệm tưởng lập vô tận cổ kim. Tức tịnh thường nhiễm ở thật tướng mà chẳng phải thăng (cấp bật cao), tức đục thường trong, vào lục đạo mà chẳng phải đọa.
     Nhìn vào ngoài chẳng dư, nhìn vào trong chẳng thiếu, đầy mắt mà chẳng thấy đầy tai mà chẳng nghe, đầy lòng mà chẳng biết, đủ lượng mà chẳng hay, đã thành mà chẳng phải cũ, nay hiện mà chẳng phải mới, chẳng mài mà tự sáng tỏ, chẳng chùi mà tự trong sạch, chơn tánh độc lập, diệu thể thường trụ, linh quang xán lạn, công đức đầy tràn.
     Diệu dụng của hàm linh phổ hội, làm vua của muôn Pháp, Tam thừa và Ngũ tánh (năm thứ chủng tánh : tam thừa, ngoại đạo và bất định chủng tánh) qui tụ, làn mẹ của ngàn Thánh, độc tôn độc quý, chẳng gì sánh bằng, là chơn pháp yếu, là thật đại đạo, tông tích nhiệm mầu chẳng định, tùy theo tánh vật mà vuông tròn, diệu dụng thích ứng tự nhiên, tùy theo căn cơ mà ẩn hiện, cho nên gốc sanh ngọn mà ngọn tùy gốc, thể dụng lẫn nhau ; chơn thành tục mà tục lập chơn, Thánh phàm cùng tỏ ; chính ta giúp người mà người lại giúp ta chủ bạn cùng tham.
     Chúng sanh thành phật mà phật độ chúng sanh, nhân quả rõ ràng. Cảnh chẳng tự tánh mà người khác thành tự kỷ tâm chẵng tự tánh mà tự kỷ thành người khác, lý chẳng thành tựu mà một tức nhiều sự chẳng thành tựu làm nhiều tức một, tướng dù giả mà âm thầm một thể, tánh dù thật mà thường nơi vạn duyên. Dù hiểu lộ mà tìm cầu rất khó, dù siêu tuyệt mà đại dụng chẳng ngại, hiện ra ảo tượng nơi một tánh mà dung chơn (dung hợp chơn đế), Tịch diệt linh thiêng, nhờ sum la mà hiển tướng. Đế và Trí (Đế : Chơn đế, Tục đế, Trí : Quyền trí, Thật trí) phát minh lẫn nhau, nhiễm và tịnh huân tập lẫn nhau, tùy sức yếu mạnh mà chìm nổi vô thường, tùy duyên tụ tán mà nắm buông chẳng định, nhiếp nhau thì vi trần chẳng hiện , giúp nhau thì muôn cảnh đều sanh, đến như bóng trăng bỗng hiện trong nước, đi như đám mây bỗng tan trên trời, động tịnh vô ngại, trống rỗng thấu nhập, tương sanh tương khắc, linh thông khó lường, chẳng trong chẳng ngoài, diệu tánh khắp nơi.
Biển trí mênh mông, dung nạp tất cả chẳng kẻ thiết sót, linh châu (tự tánh) sáng tỏ, chiếu khắp mười phương chẳng từng mảy may ẩn giấu. như vàng thiệt tùy theo đồ dùng làm ra đủ thứ khuôn hình, muôn ngàn sai biệt mà chẳng ngại, như nước trong lặng nổi nhiều làn sóng, hiển tướng mà bản thể chẳng chút mất mát. Đều đúng đều sai, cũng tà cũng chánh, chẳng có mà thị hiện có, mơ hồ như trong mộng, chẳng thành mà tựu như thành, thấm thoát như huyễn hóa. Tùy nguồn không mà sanh diệt, pháp pháp vô tri, theo biến ảo mà thịnh suy, duyên duyên tuyệt đối (đối đãi). Cho nên, đĩnh núi chót vót mà chẳng vực thẩm, biến rộng không đáy mà chẳng thâm sâu, tam độc, tứ đảo (điên đảo) mà chẳng phải phàm, bát giải lục thông mà chẳng phải Thánh, đồng ở đất chơn như tịch diệt, cùng vào cửa bất nhị vô sanh. Tạo tác trong đại giải thoát, trùng trùng vô tận hiển hiện trong bất tư nghì, mỗi mỗi khó tìm, đâu thể kiến lập thủy chung, chỉ định xứ sở ! Đâu cần sùng chơn chê vọng, chán dị ham đồng !

       Lại muốn hoại thân thể huyễn hóa, muốn dứt ý thức chiêm bao mà chẳng biết mỗi niệm đều là Thích Ca ra đời, mỗi bước đều là Di Lặc hạ sanh, phân biệt là hiện cái tâm của Phổ Hiền, mọi cửa đều là cam lồ, mọi vị đều là đề hồ, thật chẳng ra ngoài vườn bồ đề, thường ở nơi thế giới Liên Hoa Tạng. Chói rọi không vật nào chẳng soi thấu, rõ ràng sáng tỏ đầy mắt, khỏi nhờ biện tài diễn tả, chẳng cần thần thông hiển thị , động tịnh thường gặp, sáng tối chẳng lìa, chẳng phải xưa thạnh nay suy, đâu phải ngu chìm mà trí hiện !
       Nói nín thường khế hợp, đầu đuôi thầm dung thông, Đạt Ma đâu cần đến Đông Độ, bảy Phật đâu cần thị hiện trên đời ! Hễ tâm không thì trời đất hư tịch, tâm hữu thì quốc độ sum sê, niệm khởi thì sơn nhạc lay động, niệm lặng thì song ngòi yên tịnh, ứng cơ cao tột thì lời lời liễu nghĩa, trí huệ sáng tỏ thì niệm niệm hư huyền, căn khí lớn thì pháp pháp đầy đủ, độ lượng rộng thì trần trần vô tận, ý địa trong thì thế giới sạch, tâm thủy đục thì cảnh tượng tối, đề ra một mà bao gồm toàn bộ, khang trang bình đẳng, sẳn sàng cụ túc, chỉ ở nơi chánh quán mà thôi.
        Muôn pháp vốn do người tạo, chơn như tự đủ nhiều đức, vô niệm mà công đức chẳng có, vô tác diệu hạnh đều viên. Chẳng tạo mà thành, linh trí sẳn sàng, chẳng tìm tự đắc, diệu tánh thiên chơn, mới biết lý trí viên dung, đại đạo chẳng ở bên ngoài, tuyệt một hạt bụi mà độc lập, có tướng nào để tung hoành ? Vì vậy, ngay nơi âm thanh tức là nghe, ngoài sự thấy chẳng có pháp khác (bản văn cũng là bản kiến, cùng khắp không gian và thời gian) sắc đẹp chẳng thể mê hoặc, âm điệu chẳng thể lôi chìm, như nước biển hổi đủ mùi vị của ngàn sông, như núi tu di nuốt hết sắc tướng của quần đảo, không một tên chẳng hoằng danh hiệu Như Lai, không một vật chẳng tỏ hình tướng của chư Phật, cây cối nhà cửa tự tỏ diệu tướng vô biên, khỉ kêu chim hót đều nói diệu âm bất nhị, si ái thành nguồn chơn giải thoát, tham sân tỏ đại dụng Bồ đề, vọng tưởng khởi mà Niết Bàn hiện, trần lao sanh mà Phật đạo thành. Từ bản thể làm nên mà Hóa thân, báo thân tịch lặng, tùy nhân duyên hiển hiện mà Phật pháp đầy đủ khắp nơi, thật là chỗ quy về của giáo pháp, linh ngộ của Thánh Hiền, thực tế của chúng sanh, căn bản của vạn vật, đại cương của chánh pháp, bản ý của xuất thế, đường lối của Tam thừa, bến đò của Phật đạo, linh nguyên của Bát Nhã, quê nhà của Niết Bàn.
        Bởi vì diệu lý mầu nhiệm sâu xa, huyền chỉ hy hữu khó lường, kẻ cường huệ uổng nhọc tinh thần, kẻ si thiền chỉ có thể tự trói. Kỳ thật thì con đường của ngôn ngữ cắt tuyệt, ý thức phân biệt dứt bặt, tinh thần trong sạch, trí huệ tự nhiên, không hữu song dung, căn trần trống rỗng như nhìn thấu trời xanh, như ở dưới mặt trời chói chang, không một pháp môn nào hiển hiện, không một chí lý nào chẳng rõ. Chẳng động tình thức, dưới ao sâu mà lượm nhầm thất bảo, chẳng phí tâm lực, trong nước đục mà tự được huyền châu, quán đại thiên thế giới ngay trước mắt, chỉ hằng sa quốc độ nơi bên cạnh, nắm chúng sanh trong bàn tay, ôm vạn vật ở trong lòng, chẳng tốn chút công, thành tựu Lăng Nghiêm đại định, chẳng nhìn một chữ, xem hết tất cả kinh điển, nghĩa của Tứ cú thông, đường của Bách phi tuyệt. Dọc xuyên tam tế, ngang thấu mười phương, duy nhất tổng trì (Tổng nhất thiết pháp, Trì nhất thiết nghĩa hiệu Đại Tự Tại)
       Thần quang hiển hách, oai đức lừng lẫy, ngoại đạo kinh hồn, tà ma sợ hãi, phiền não tan rã, sanh tử bay mất, tình ái rửa sạch, ngạo mạn sụp đổ, thông thả vô ngại, đạm bạc rộng rãi, vô đắc vô cầu, khoáng đạt tự tại, cao rộng quá hư không, ánh sáng hơn nhật nguyệt, vậy thì huyền trí và thật trí đi đôi, từ bi, trí huệ song hành, cứu thế như huyễn, độ sanh đồng không, vào hữu mà chẳng trái vô, hành chơn mà chẳng ngại tục, như trời che đất chở, như nhật nguyệt cùng sáng, thị Thánh hiện phàm, xuất sanh nhập tử, đem thật tướng tâm ấn,dựng đại pháp tràng tạo một ánh sáng mà cứu tế muôn loài, khiến tro lạnh bừng lên sức ấm, hạt giống cháy sống lại làm thuyền. Từ nơi biển khô, làm đạo sư cho kẻ lạc đường. Che và chiếu tự động, nắm buông tùy trí, dù vô tri mà muôn pháp viên thông, dù vô kiến mà tất cả rõ ràng. Chỉ cần khế hợp ý chỉ này thì bản thể vốn tự nhiên, như mùa xuân nẩy mầm, như đất sanh vạn vật, Thập thân bỗng hiện, Tứ trí đồng khởi, là như ý tràng (cây lọng), là Thất bảo tụ, pháp tài phong phú, lợi sanh chẳng cùng, nên gọi Vô Tận Tạng, hiệu rừng công đức,đâu thể có ánh nắng mà chẳng chiếu, có đèn đốt mà chẳng sáng!
       Chớ nên dùng tâm có giới hạn mà sanh kiến giải có ngằn mé, đo lường rộng hẹp của hư không, xác định biên thùy của pháp giới, khiến cho tình thức phân biệt, chẳng siêu việt được cảnh trần, vọng tâm bừng dậy nơi đất chơn như, đánh lên làng sóng ý thức trong biển tịch diệt, hạn chế sự thấy trong ống dòm, trộm cấp ánh sáng nơi kẻ vách, vọng lập cái tri của năng sở, lầm khởi cái kiến giải của tốt xấu, đuổi theo lời nói văn tự để định đoạt tông chỉ, cũng như con muỗi muốn bay theo đại bàng, đom đóm muốn so với mặt trời vậy !
       Tự tánh khởi dụng dung nạp mười phương hư không trong một lỗ chân lông, hiện muôn ức Phật sát trong một sát na, mỗi mỗi thân cùng khắp mỗi mỗi Phật sát, mỗi mỗi Phật sát bao gồm vô biên thân, rút nhiều kiếp trong khoảnh khắc, quăng quả đất ra ngoài vũ trụ, trong một lỗ chân lông phóng ra vô tận quang minh, trong một lời nói tỏ hết tất cả giáo pháp, ấy là bổn phận của chúng sanh, sức bằng với chư Phật, không một pháp nào mà chẳng phải vậy, hễ có tâm là sẳn sàng, chẳng nhờ sức của thần thông, chẳng do tu chứng mà được, đức lượng như như, tất cả đầy đủ, nếu bỏ biển mà nhận bọt, ý chí thấp kém mà tự khinh mình, cũng như cầm hạt châu như ý mà đi xin, có kho vàng lại nghèo khổ, cô phụ tánh linh của chính mình, chôn vùi gia tài mà không biết xài !
       – Người học đạo chẳng tin tự tâm hoặc muốn bỏ vọng mà giữ chơn,hoặc cho mình chẳng có phần mà cam chịu trần lao, hoặc nhận vọng làm chơn mà hành theo tà đạo, hoặc chấp phương tiện mà khổ tu tiện hạnh, hoặc chấp cao vị mà suy tôn cực Thánh, hoặc tích chứa công đức, hy vọng mãn ba A tăng kỳ kiếp để thành Phật, chẳng biết toàn thể hiện tiền, lại cầu mong cầu diệu ngộ, chẳng biết xưa nay vốn đầy đủ mà chẳng đợi sự thành công. Nếu chẳng nhập viên thường ắt phải chịu luân hồi !
       – Chỉ vì mê muội nơi đức tánh, chẳng phân biệt được chơn tông, buông thả theo trần, bỏ gốc tìm ngọn, theo lưới ma của hữu vô, vào rừng tà của đồng dị, mổ xẻ chơn không, phân chia pháp tánh, sanh diệt theo trần, hữu vô tùy cảnh, chấp đoạn mê thường, lấy duyên bỏ tánh, vọng khởi tri giải, lầm lẫn tu hành.
      – Hoặc hòa thần dưỡng khí mà chấp tự nhiên, hoặc cho khổ thân hủy hình là hành theo chí đạo, hoặc chấp lấy cái cột vô trước để dựng lên thành cảnh trước mắt, hoặc cầu tịnh lụ mà đè nén vọng tâm, hoặc gọi tình diệt pháp để kết thành không, hoặc theo hình bóng của nhân duyên pháp trần mà ôm thành tướng, hoặc bỏ mất chơn chiếu của linh tâm, hoặc hủy hoại chánh nhân của Phật pháp.
     – Hoặc kết tụ tinh thần cắt tuyệt tâm thức, thọ báo thành loài vô tình, hoặc tĩnh tâm bặt sắc trụ quả nơi cỏi trời tứ không, hoặc chấp thật có lạc vào thành huyễn hóa, hoặc chấp KHÔNG lại đồng như sừng thỏ, hoặc tuyệt kiến giải đọa vào nhà đen tối, hoặc lập chiếu soi trở thành chấp sở tri, hoặc nhân HỮU GIÁC là hình của chơn Phật hoặc nhận VÔ TRI như loài gỗ đá, hoặc chấp vọng bằng với quả cứu cánh, cũng như nhận đất làm bình, hoặc bỏ duyên để vào cửa giải thoát cũng như vạch sóng tìm nước.
      – Hoặc đuổi theo ngoại cảnh, vọng tạo việc trong chiêm bao, hoặc trong giữ u nhàn ở yên nơi ngu si, hoặc chấp đồng cho vạn vật đều bằng nhau, hoặc chấp dị mỗi mỗi tự lập pháp giới, hoặc cam chịu ngu si cho chẳng có phân biệt làm đại đạo, hoặc ham không kiến (tri kiến chấp không) bài xích thiện ác cho là chơn tu, hoặc hiểu lầm tánh bất tư nghì lọt vào ngoan không, hoặc cho diệu tánh chơn thiện là thật có, hoặc trầm cơ tuyệt tưởng (cơ: linh động)đồng như cõi trời hữu lậu, hoặc giác quán tư duy đọa nơi tình lượng (tình thức suy lường), hoặc chẳng cứu xét vọng tánh cho ấy là thời hỗn độn sơ khai của trời đất, hoặc mê muội nơi ảo thể lấy “tuyệt không” làm Tông chỉ.
      – Hoặc nhận bóng làm chơn, hoặc lấy vọng để tìm thật, hoặc nhận tánh kiến văn cho là loài hữu tình, hoặc chỉ cảnh huyễn hóa cho là loài vô tình, hoặc khởi ý trái với tịch tri, hoặc dứt niệm phế bỏ phật dụng, hoặc mê tánh công đức khởi tri kiến của tâm sắc, hoặc căn cứ lời “Tất cánh không” sanh tâm đoạn diệt, hoặc chấp chí lý liền bỏ trang nghiêm,hoặc mê tiệm thuyết (đốn tiệm tương đối) luôn luôn tạo tác, hoặc chiếu theo “Bản thể lìa duyên” kiến cố ngã chấp, hoặc tiêu diệt tất cả giữ lấy tự kỷ, hoặc quyết định “Người và pháp tự nhiên” thành ngoại đạo vô nhân, hoặc chấp cảnh và trí hòa hợp đọa vào cộng kiến, hoặc chấp tâm và cảnh lẫn lộn thành pháp năng sở, hoặc chấp sự phân biệt chơn tục bị buộc nơi ngu xuẩn của tri chướng.
     – Hoặc giữ “nhất như bất biến” lọt vào thường kiến, hoặc thấy tứ tướng dời đổi chìm vào đoạn kiến, hoặc chấp vô tu lìa bỏ Thánh vị, hoặc nói có chứng trái ngược thiên chơn, hoặc đam mê y báo, chánh báo, theo thế tục luân hồi ; hoặc chán sanh tử, lạc mất chơn giải thoát ; hoặc mê chấp chơn không, sùng nhân trước quả ; hoặc mê muội thực tế, ham Phật ghét ma, hoặc chấp thuyết phương tiện tùy nghi, cho lời Phật Tổ là chơn.
     – Hoặc bỏ mất thật tướng âm thanh, muốn lìa ngôn ngữ cầu nơi nín lặng; hoặc tuân theo giáo thừa, phá hoại định thể của tự tánh ; hoặc hoằng thiền quán, bài xích lời giải thích của kinh liễu nghĩa ; hoặc vì tranh đoạt danh lợi, đặt ra lời kỳ lạ, bị chìm vào biển ý thức ; hoặc muốn tịnh khiết tìm cầu huyền bí lại đọa vào thành Ngũ ấm ; hoặc khởi tri giải thù thắng, móc thịt đắp ghẻ ; hoặc trụ nơi bản tánh trong sạch mà chấp thuốc thành bệnh ; hoặc theo văn tìm nghĩa, thích ăn đàm dãi của người khác.
     – Hoặc cố giữ thanh nhàn, ngồi nơi pháp trần; hoặc sanh tâm có sở đắc để bàn luận Đại thừa vô tướng ; hoặc dùng tư tưởng suy lường để tìm huyền chỉ bên ngoài vật ; hoặc phế bỏ ngôn thuyết sanh kiến giải tịnh khẩu ; hoặc chấp sự giải thích kỹ càng cho ngón tay là mặt trăng ; hoặc nhận lầm sự dụng làm nguồn gốc của sanh diệt ; hoặc chuyên ghi nhớ, trụ trong thức tưởng ; hoặc hay sắp đặt, đánh mất bản tánh của viên giác ; hoặc phóng túng đi lầm cửa đạo, hoặc muốn thân tâm tinh tấn kẹt nơi hữu vi.
    – Hoặc chấp chơn tánh vô vật, bị trói nơi trí huệ ; hoặc siêng tu niệm, đánh nơi chánh thọ (chánhđịnh) ; hoặc bắt chước “tự tại vô ngại” bỏ sự tu hành ; hoặc ỷ “Bản tánh vốn không”, tùy thuận tập khí ; hoặc chấp “thật có ràng buộc” nên muốn dứt trừ.
    – Đối với phật pháp, kẻ quý trọng thì sanh trưởng pháp ái, kẻ khinh mạn thì hủy hoại nhân Phật ; hoặc cầu tiến mà trái với bản tâm ; hoặc lui sụt trở thành buông lung ; hoặc thể và dụng khác nhau, trái với phật thừa ; hoặc trầm không trệ tịch, làm mất bản tánh của đại bi ; hoặc bặt duyên chán giả, vi phạm pháp môn sẵn đủ ; hoặc mê muội chơn ngã vốn không, mà chấp ngã kiến ; hoặc cố chấp phật pháp, mê lầm hiện lượng (pháp ngã vốn không) ; hoặc có giải chẳng có tín, mống lên tà kiến ; hoặc có tín chẳng có giải, sanh trưởng vô minh.
    – Hoặc cho người đúng pháp sai ; hoặc cho cảnh sâu trí cạn ; hoặc chấp lấy nên mê pháp tánh ; hoặc xả bỏ thành trái chơn như ; hoặc chấp tánh lìa nên nghịch với nhân ; hoặc chấp thường trụ nên trái với quả ; hoặc chấp cái sai phỉ báng cái thật ; hoặc chấp cái đúng phá hoại sự tùy nghi ; hoặc chán vô minh, xa trái bất động trí môn ; hoặc ghét vọng cảnh, tổn thương pháp tánh tam muội ; hoặc chấp cái lý đồng, hành tăng thường mạn ; hoặc bác cái tướng dị, hoại cửa phương tiện.
      – Hoặc chấp Bồ Đề là thật, phỉ báng chánh pháp luân ; hoặc chấp chúng sanh là giả ; hủy hoại chơn Phật thể ; hoặc chấp thật trí mà bỏ quyền trí ; hoặc chấp sự tùy cơ giáo hóa mà mê muội chánh tông ; hoặc kẹt trên lý, lọt vô hầm vô vi ; hoặc chấp nơi sự, nhảy vào lưới hư huyễn ; hoặc xóa bỏ dấu tích đối đãi, trái ngược với sự song chiếu (thể và dụng đi đôi) ; hoặc chấp nơi trung đạo, làm mất bản ý phương tiện ; hoặc có định mà chẳng huệ, làm mầm đạo bị cháy ; hoặc cố chấp hạnh nguyện, thành chốn vùi giống Phật ; hoặc tu hạnh vô tác mà trở thành bồ đề hữu vi ; hoặc chấp cái tâm vô trước nên thành bát nhã tương tự (chẳng phải bát nhã chân thật) ; hoặc ham tướng tịnh mà thành cáu bẩn của thật  tánh ; hoặc trụ nơi chánh vị (ngôi pháp) làm mất cái tự tánh vốn Không ; hoặc kiến lập thiền quán vô tướng làm chướng ngại chơn như.
     – Hoặc sanh khởi tâm liễu tri, thành phản bội pháp tánh ; hoặc chấp chơn thuyên (lời giải thích kỹ càng) sanh ngữ kiến (tà kiến chấp ngôn ngữ), như uống cam lồ mà chết sớm ; hoặc ôm chí lý tròn đầy, khởi tâm chấp trước, như uống đề hồ mà trúng độc vậy.
      Một trăm hai mươi thứ tà tông kiến giải kể trên, đều là mê trái tông chỉ, lầm mất bản chơn, cũng như dụi mắt nên thấy hoa đóm trên không ; leo cây để tìm cá. Mùi đắng chẳng làm được giống ngọt ; đất cát đâu thể nấu thành cơm ! Ấy đều vì chẳng biết Pháp tánh dung thông, nên mê lầm lời phương tiện của chư Phật, Chư Tổ, chìm nơi kiến chấp, tự chướng bản tâm, chẳng nhập Trung đạo, bò lết trên đường thăng trầm, ràng buột trong lòng thủ xả, nơi vô tâm mà muốn đoạn trừ, nơi vô sự mà muốn lìa bỏ, lấy pháp không làm thành cảnh si ái, đem chơn trí lập thành tư tưởng chướng ngại, luôn luôn theo đuổi bát phong, khó ra khỏi lưới chấp trước. thật chẳng biết cái lý sanh tử âm thầm khế hợp với đạo, vọng vốn là bồ đề, xưa nay dung thông giác tánh, sáng thường trụ nơi tối, nước chẳng lìa băng, diệu dụng vô tận linh trí thường tồn.
      Sao lại dứt niệm tưởng để cầu tịch lặng diệt phiền não để chứng chơn như ? Vọng tu vọng tập, tự khó tự dễ mà không biết bản tánh viên giác vốn chẳng bí mật, kho tàng Như Lai thật chẳng che giấu !
      Nên biết, lý của viên thường chẳng thiếu, chỉ vì lòng tín giải khôgn đủ, cũng như thấy Bồ Tát đứng trên mũi kim, thấy chỉ mành treo núi Tu Di, chỉ biết tán thán hy hữu kỳ lạ mà chẳng biết tại sao ! Như trong kinh Pháp Hoa, con đi xin ăn mà chẳng biết cha (tự tánh) là triệu phú, chẳng dám thừa kế gia tài của mình, suốt ngày tìm cầu bên ngoài mà chẳng tự tỉnh ngộ, bỏ vàng lượm sỏi, cam chịu nghèo khổ.Cho nên, chư Phật thương tiếc, chư Tổ xót xa, đều nói chúng sanh chẳng chịu đi thẳng đến chổ thực tế, lạc mất bản tâm, chỉ theo vọng thức thăng trầm đuổi theo cảnh trần so đo chấp trước, chẳng biết muôn pháp vô thể, tất cả vô danh, tùy ý hiện hình, theo ngôn lập hiệu, ý tùy tưởng sanh, ngôn theo niệm khởi, kỳ thật, tưởng và niệm đều không, gốc ngọn phi hữu. Cho nên, tam giới vô vật, vạn hữu trống rỗng, tà chánh đồng nhau, thiện ác không khác. Chúng sanh vì ôm chặt tư tưởng chấp thật, bỏ hết đại nghĩa của Phật pháp, chẳng trở về được tự tánh, lại ở nơi vô tâm mà phân chia đồng dị, ở trong nhất thể và vọng lập ly hợp, vừa lập mình và người thì liền sanh sự thuận nghịch, dấy lên đầu mối đấu tranh, kết thành nghiệp quả mê hoặc, dệt thành lưới thị phi, tạo thành cái lòng của yêu ghét, nhìn bóng tượng trong gương phân biệt xấu đẹp, nghe tiếng dội trong hang mống khởi buồn vui, trách hạnh kiểm của người huyễn hóa, mà chẳng biết năng sở song tịch, lý sự đều không. Đã tạo cái nhân mê hoặc thì phải chịu cái quả huyễn hóa.
        Muốn rõ diệu lý nên truy cứu tự tâm, một niệm chứng ngộ liên tiêu hàng sa ác nghiệp, một đèn đốt lên liên phá ngàn năm đen tối, muôn cảnh đối diện mà chẳng lập danh tướng, mê ngộ chẳng còn, trạm nhiên trong sạch, thân tâm thấy nghe tùy duyên dưỡng tánh, phóng khoáng tung hoành,tiêu dao tự tại, sự tiếp xúc hằng ngày đều là giải thoát bất tư nghì, cũng là Đạo tràng đại tịch diệtNay khuyên các vị hậu hiền nên đi theo đường lối này, dẫu cho nghe mà chẳng tin, cũng được gieo trồng giống Phật ; dẫu cho học mà chưa thành cũng được phước báo trời người, huống là chứng quả thành Phật, chẳng có gì bằng !

Những lời trên đây đều có ghi đủ trong kinh điển của Phật, chẳng phải khi không mà đặt ra,xin học giả hãy tự xem xét kỹ !

17 LỜI KHUYÊN DẠY ĐÁNG SUY NGẪM 
CỦA THIỀN SƯ KODO SAWAKI 
Diệu Liên Lý Thu Linh chuyển ngữ
Thiền sư Kodo Sawaki (1880-1965)
Thiền sư Kodo Sawaki (1880-1965)
Kodo Sawaki (1880-1965) hay “Kodo-Kẻ không nhà”, là một trong những vị thiền sư phái Tào Động (Nhật Bản) có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX. Là trẻ mồ côi, 16 tuổi xuất gia, sau bị gọi nhập ngũ, chiến tranh kết thúc Sawaki quay về tiếp tục tu học thiền. Kodo Sawaki lập hạnh không trụ mà đi khắp nơi để dạy thiền.
Thiền sư Sawaki luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc hành thiền hơn là học kinh sách hay tham công án. Một số lời khuyên dạy của Kodo Sawaki được môn sinh tập hợp thành “Gửi bạn”, xin chia sẻ đến bạn đọc suy ngẫm.

1. Gửi người bắt đầu biết suy gẫm về cuộc đời

Ở một số nơi tại Mãn Châu, các cỗ xe thường do các chú chó to lớn kéo. Bác xà ích treo một miếng thịt trước mũi chó, và chú chó chạy như điên theo miếng thịt. Nhưng dĩ nhiên là chú không bao giờ với tới. Chú chỉ được vứt cho miếng thịt khi cỗ xe đã về tới đích. Rồi chỉ trong một cái ngốn, chú nuốt chửng miếng thịt xuống cổ họng.

Người đi làm với đồng lương cũng y hệt như thế. Từ đầu tháng cho đến cuối tháng, họ cũng chạy theo đồng lương treo trước mũi. Một khi đã lãnh lương, họ cũng ngốn nó, và lại sẵn sàng chạy tiếp theo kỳ lương tới. Không ai có thể thấy xa hơn đầu mũi của mình.

Câu hỏi là: Tại sao bạn phải khốn khổ như thế?

Nếu không cẩn thận, bạn sẽ phí hết cuộc đời mình không làm gì ngoài việc chờ đợi những hy vọng tầm thường nhất của mình có thể thành tựu.

2. Gửi người không thể nào dừng lo lắng người khác nghĩ về mình như thế nào

Bạn không thể nào đổi bất cứ thứ gì với người khác. Mỗi và mọi người phải sống cuộc đời riêng của mình.

Đừng phí thời gian suy xét xem ai là người tài giỏi nhất.

Mắt không nói, “Chúng tôi thấp hơn, nhưng thấy nhiều hơn”. Chân mày không trả lời, “Đúng, chúng tôi không thấy gì, nhưng chúng tôi ở cao hơn”.

Mũi không thể thay mắt, và miệng không thể thay cho tai.

Mọi thứ đều có nhiệm vụ riêng của mình, mà không gì trong vũ trụ có thể thay thế.

3. Gửi người đã hoàn toàn mệt mỏi trong việc đấu tranh với người phối ngẫu

Vấn đề không phải ai là người đúng. Đơn giản là các bạn nhìn sự việc theo quan niệm khác nhau. Khi bạn bắt đầu nói “Tôi”, mọi thứ theo sau đều là ảo tưởng.

Hãy thôi cố gắng làm một người đặc biệt – hãy cứ là chính mình. Hãy kiềm chế. Ngồi xuống!

4. Gửi người nghĩ làm giống người khác là có lợi

Bạn luôn bám theo người khác. Nếu họ ăn khoai chiên, bạn cũng đòi ăn khoai chiên. Nếu ai đó ăn kẹo, bạn cũng muốn ngậm kẹo. Nếu ai đó thổi còi, bạn cũng kêu đòi: “Mẹ ơi, mua cho con cái còi”. Và điều đó không chỉ xảy ra đối với con trẻ.

Khi mùa xuân tới, bạn quay cuồng theo mùa xuân. Khi thu đến, bạn chạy theo mùa thu. Ai cũng chờ đợi thứ gì đó để chạy đuổi theo. Có người còn kiếm sống được nhờ sự chạy đuổi theo đó – họ làm nghề quảng cáo.

Với từng cá nhân, chúng ta còn chịu đựng nổi, nhưng khi họ lập thành nhóm, họ bắt đầu trở nên quái dị. Họ bị rơi vào sự ngu ngốc của nhóm, của bầy đàn.

Khi sống trong sự ngu ngốc của nhóm, chúng ta lẫn lộn giữa sự cuồng điên và kinh nghiệm thực sự. Nên điều quan trọng là bạn phải rõ ràng về bản thân, và thức tỉnh khỏi cơn điên đó. Thiền có nghĩa là rời bỏ bầy đàn và tự đi trên đôi chân của mình.

5. Gửi người mà suốt đời chỉ biết có tiền và tiền

Hạnh phúc và bất hạnh của con người không chỉ tùy thuộc vào tiền. Nếu con số trong tài khoản tín dụng của bạn là thước đo lường hạnh phúc, thì sự việc sẽ đơn giản xiết bao. Tuy nhiên thực sự nó không phải như thế.

Đừng quá tiêu cực khi bạn bắt đầu nói là bạn cần tiền để sống. Trong thế giới này, bạn có thể hoàn toàn sống tốt mà không cần đến sổ tiết kiệm.

Một số người nghĩ rằng họ quan trọng bởi vì họ có tiền. Người khác thì cho mình quan trọng vì đã đạt được giác ngộ (satori). Nhưng cho dầu bạn thổi phồng tấm da thịt này bao nhiêu, bạn cũng không thể biến mình thành gì cả – ngoài việc trở thành ma.

Những gì không thuộc về bạn chiếm đầy vũ trụ. Khi nào những suy tưởng của cá nhân bạn chấm dứt, thì Phật pháp có mặt.

6. Gửi người thích có nhiều tiền, tình yêu, chức vị và danh vọng

Si mê có nghĩa là chỉ biết chăm lo cho bản thân mình. Còn kẻ trí nói, “Dầu có gì xảy ra, tôi vẫn là tôi”.

Một lần tôi viếng thăm một mỏ than. Có lúc khi đang đi xuống, tôi có cảm giác như thình lình chúng tôi lại trở lên cao. Cũng giống như thế, khi suy nghiệm về cuộc đời mình, hình như chúng ta luôn sai lầm khi lầm tưởng rằng những con số luôn thay đổi là tổng số.

Thua là định. Thắng là ảo tưởng.

Không thèm muốn bất cứ thứ gì là món quà lớn nhất mà bạn có thể ban tặng cho vũ trụ.

7. Gửi người muốn thấy kẻ thù bị điêu đứng

Chúng ta thường nghĩ không biết ở đây ai thực sự là kẻ hay hơn. Nhưng chẳng phải là tất cả chúng ta đều tượng hình từ cùng nắm đất đó sao?

Mọi người cần ngồi chôn chặt xuống chỗ không có tốt hơn hay xấu hơn.

Suốt đời bạn đã là kẻ điên rồ khi nghĩ rằng thực sự có “tôi” và “người khác”. Bạn làm đủ trò để nổi bật trong đám đông, nhưng trong thực tế thì không có “bạn” hay “người khác”.

Phật pháp có nghĩa là liền một mảnh. Vậy thì đường biên nào chạy giữa bạn và tôi?  Dần dần tất cả chúng ta đều hành xử như thể có đường biên chia tách bạn và thù. Chúng ta đã quen quá với cách suy nghĩ đó, ta tin rằng đường biên đó thực sự hiện hữu.

Nghèo hay giàu, quan trọng hay không quan trọng – không có gì hiện hữu. Chúng chỉ là ánh sáng lấp lánh trên các làn sóng.

8. Gửi người đang đau khổ vì bị lường gạt

Tất cả chúng sanh đều lầm lạc: xem là hạnh phúc cái đưa đến bất hạnh, và than khóc vì một bất hạnh hoàn toàn không phải là bất hạnh. Tất cả chúng ta đều biết là một đứa trẻ đang khóc có thể biến nước mắt thành tiếng cười khi bạn cho nó cái bánh. Cái mà những kẻ phàm phu như chúng ta gọi là hạnh phúc cũng không hơn thế bao nhiêu. Đôi lúc bạn cần tát vào mặt mình để tự hỏi một cách nghiêm túc: Những điều bạn được hay mất có thực sự đáng được bạn reo hò hay than khóc như thế không?

Sớm muộn gì mọi người cũng bắt đầu chỉ nghĩ cho riêng mình. Bạn nói, “Tốt quá!”. Nhưng cái gì tốt?  Nó chỉ tốt cho bản thân bạn, thế thôi.

Người có nhiều ham muốn rất dễ bị lường gạt. Ngay cả những kẻ lừa phỉnh đại tài nhất cũng không mong được gì từ người không có lòng tham muốn.

Phật giáo có nghĩa là vô ngã, không có gì để đạt được.

9. Gửi người lận đận trên đường công danh

Khi đã chết và bạn nhìn lại cuộc đời mình, bạn sẽ thấy những thứ này không đáng chi.

May mắn hay rủi ro, tốt hay xấu – không phải tất cả đều như bạn nhìn thấy. Cũng không phải giống như bạn nghĩ đâu. Bạn cần phải vượt lên trên may mắn hay bất hạnh, tốt hay xấu.

Đau khổ không là gì hơn là cái khổ ta tự tạo ra cho bản thân.

10. Gửi người luôn than thở rằng mình không có thời gian

Mọi người đều than phiền là họ quá bận rộn đến không có thời gian. Nhưng tại sao họ lại bận rộn đến thế? Chính là ảo vọng khiến họ bận rộn. Người hành thiền luôn có thời gian. Khi bạn hành thiền, bạn có nhiều thời gian hơn bất cứ ai ở trên thế gian này.

Nếu không cẩn thận, bạn đang làm ầm ĩ cái việc kiếm sống của mình. Bạn luôn bận rộn, nhưng tại sao? Chỉ là để kiếm miếng ăn. Đàn gà cũng tíu tít khi mổ thức ăn. Nhưng tại sao? Chỉ để bị người ta ăn thịt.

Người ta có thể tạo ra bao nhiêu ảo vọng trong một cuộc đời? Khó thể tính toán. Ngày này qua ngày khác, lúc nào cũng “Tôi muốn cái này, tôi muốn cái kia…”.  Chỉ dạo một vòng trong công viên cũng đã có bao vọng tưởng hiện ra trong đầu. Vậy đó là ý  nghĩa  của ‘bận rộn”, “Tôi muốn được bên em, tôi muốn về nhà, tôi muốn gặp em…”.

Con người luôn thở không ra hơi vì chạy quá nhanh theo ảo vọng của họ.

11. Gửi người đang mong muốn có một cuộc sống hạnh phúc hơn

Hãy tịnh lắng và mọi thứ rồi sẽ tốt thôi. Ta chỉ cần một sự gián đoạn ngắn. Làm Phật có nghĩa là một sự gián đoạn ngắn từ làm chúng sanh. Làm Phật không có nghĩa là phải đi từ chúng sanh lên.

“Loài nào đứng trên mặt đất mà không đi tới cũng chẳng đi lui?”. Kyuho trả lời, “Là con cừu đá với con cọp đá: trước sau gì chúng cũng mệt mỏi khi phải kình chống nhau”. Con cừu đá không nhúc nhích. Con cọp đá cũng không nhảy chồm lên vì đói. Điểm mấu chốt là đó – hãy đối mặt với sự việc vượt lên cả suy tư.

Chúng ta được gì khi thực sự nắm bắt sự vật như chúng đang là? Vượt trên sự suy tư. Vượt lên trên suy tư không cho phép nó tự suy tư. Dầu bạn có nghĩ thế hay không: sự vật cũng đơn giản như chúng là.

“Tất cả mọi pháp đều trống không” có nghĩa là không có gì để chúng ta can dự vào, vì không có gì thực sự xảy ra.

Chưa từng có gì xảy ra, bất chấp những gì như đang xảy ra – đó là trạng thái tự nhiên. Ảo tưởng là đánh mất trạng thái tự nhiên này. Thông thường chúng ta không nhận ra được trạng thái tự nhiên này. Chúng ta che giấu nó với một điều gì khác, nên nó không còn tự nhiên nữa.

Phật pháp có nghĩa là trạng thái tự nhiên này. Thực hành theo Phật có nghĩa là hoàn toàn sống trong giây phút hiện tại này – là cả cuộc sống của ta – ngay đây và bây giờ.

12. Gửi người muốn học Phật pháp để hoàn thiện bản thân

“Lý thuyết rỗng tuếch” là cách ta gọi những kẻ sính dùng thuật ngữ. Kiểu đó thì không ích lợi gì. Hãy đắm cả hồn và xác vào đó!

Bạn phải hoàn toàn chết để có thể quán tưởng về Phật pháp. Chỉ tự hành xác và chết nửa vời thì không đủ.

13. Gửi người cho rằng Phật giáo không có nghĩa lý gì đối với họ

Khi nói về Phật, bạn đang nghĩ đến một điều gì xa vời, không liên quan đến bạn, đó là lý do tại sao bạn chỉ chạy loanh quanh trong vòng tròn.

Chúng sanh và Phật đều có cùng hình tướng. Tỉnh giác và si mê cũng có cùng hình tướng. Khi ta thực hành theo Phật pháp, chúng ta là Phật. Hay đúng hơn, chính vì ta đã là Phật nên ta có thể thực hành theo Phật pháp.

Bạn nghĩ rằng Phật giáo thì hơi khác với mọi thứ. Nhưng không phải như thế chút nào: Phật giáo chính là mỗi và tất cả mọi thứ.

14. Gửi người không biết việc hành thiền của mình có ích lợi gì không

Thiền có ích gì? Hoàn toàn không! Nhưng cái “chẳng ích lợi gì” này phải thấm vào xương thịt bạn cho đến khi bạn thực sự thực hành cái “chẳng ích lợi gì”. Chỉ đến khi đó, thì việc hành thiền của bạn mới thực sự chẳng ích lợi gì.

Bạn nói rằng bạn muốn trở thành người tốt hơn bằng cách hành thiền. Nhưng thiền không phải là về việc học làm thế nào để thành một con người. Thiền là dừng lại việc làm người.

Bạn nói, “Khi thiền, tôi bị ảo tưởng!”. Điên rồ! Sự thật là chỉ khi hành thiền bạn mới ý thức đến các ảo tưởng của mình. Khi bạn quay cuồng với ảo tưởng của mình, bạn đâu hề để ý tới chúng. Lúc bạn hành thiền, một con muỗi chích, bạn cũng biết ngay. Nhưng khi bạn đang quay cuồng, thì con vắt có cắn, bạn cũng không hề hay.

Đừng càu nhàu. Đừng có trao tráo mắt nhìn khoảng không. Chỉ ngồi!

15. Gửi người với tâm bấn loạn đang cố hết sức để được tâm an

Tâm bạn không an vì bạn đang chạy đuổi theo lý tưởng của một tâm hoàn toàn thanh tịnh. Đó là đi thụt lùi. Hãy theo dõi tâm trong từng giây phút, dầu nó có loạn động đến thế nào. Ta chỉ có thể đạt được tâm an lạc rộng lớn khi thực hành với tâm loạn động này.

Khi sân cuối cùng được chấp nhận là tâm sân, thì tâm sẽ an lạc.

16. Gửi người cho rằng mình đạt được trạng thái tâm tốt đẹp hơn nhờ thiền định

Khi nào bạn còn cho rằng thiền là việc tốt, thì có điều gì đó không bình thường. Hoàn toàn không có gì đặc biệt về thiền không vết nhơ. Không cần phải hàm ân về điều đó.  Đừng làm ô uế việc hành thiền của bạn bằng cách nói là bạn đã tiến bộ, cảm thấy tốt hơn, hay trở nên tự tin hơn trong việc hành thiền.

Chúng ta chỉ nói, “Mọi việc tốt đẹp!” khi chúng xảy ra theo ý ta.

Lý ra chúng ta phải để dòng nước của trạng thái ban đầu của ta như nó là. Nhưng thay vào đó, ta cứ liên tục vọc tay vào đó để xem nước lạnh hay ấm. Đó là lý do nó bị vẩn đục.

Thiền không phải là máy đo khi nhiệt độ từ từ tăng lên: “Thêm chút nữa…, đúng rồi! Giờ tôi đã đạt được giác ngộ!”. Thiền không bao giờ trở thành một điều gì đó đặc biệt, dầu bạn có thực hành nó trong bao lâu. Nếu nó trở thành đặc biệt, chắc chắn là bạn đã lơi lỏng chỗ nào rồi.

17. Gửi người kỳ vọng một cách sống tuyệt đối

Phật pháp là gì?  Đó là để mọi khía cạnh trong đời sống hàng ngày của bạn đều nương tựa theo Phật.

Cốt lõi của tất cả mọi hành động là đi đến chỗ tận cùng. Nếu tâm bạn vắng mặt dù chỉ một giây, bạn không khác gì cái xác chết. Thực hành là luôn tự hỏi mình “Ngay bây giờ tôi có thể làm gì theo như Phật?”.

Đạt được đích chỉ một lần thôi chưa đủ. Điểm tối đa của năm ngoái chẳng ích lợi gì. Bạn cần phải đạt được đích ngay bây giờ.
 
Nguyên tác: Thiền sư Kodo Sawaki